Biển Hồ trong huyền thoại
Nguyễn Quang Tuệ
Theo các nhà khoa học, Biển Hồ là miệng một núi lửa đã ngủ yên. Một nhạc sĩ đã ví Biển Hồ là đôi mắt đẹp của Pleiku duyên dáng. Nhiều tuyến du lịch đã chọn nơi này làm một điểm tham quan của du khách trong và ngoài nước. Và, dĩ nhiên từ lâu lắm rồi, người dân Pleiku vẫn coi Biển Hồ là một niềm tự hào khi giới thiệu về thắng cảnh của quê hương mình với bạn bè…
Hàng nghìn năm đã đi qua, đất bazan vẫn đỏ sậm, mặt hồ vẫn xanh trong và những huyền thoại về Biển Hồ tiếp tục làm cho người ta thêm yêu nơi này.

Thiếu nữ Jrai Pleiku trong ngày hội
Câu chuyện thứ nhất thuộc về một người nước ngoài khá nổi tiếng, đó là Henri Maitre. Trong công trình nghiên cứu xuất bản lần đầu năm 1912, tại Pháp (Les Jungles Moi - Rú Mọi hay là Rừng người Thượng, đã in tại Việt Nam, 2008) chẳng biết có phải là đã cầm lòng không đậu trước vẻ đẹp của Biển Hồ hay không mà ông dừng bút khá lâu tại đó. Trong tác phẩm, không chỉ khảo cứu hình thế, nguồn nước, con đường người Chăm thâm nhập cao nguyên thủa trước, mà từ những năm đầu thế kỉ 20, “nhà thám hiểm” người Pháp này còn ghi lại cho chúng ta một huyền thoại. Ông kể rằng: Teneung (Tơnueng - NV) là một cái hồ thiêng của người Habau (tức người Jrai Hà Bầu, một cách định danh nhóm tộc người - NV), nằm bên đường từ Pleiku đi Kon Tum. Theo người Jrai ở khu vực này, dưới đáy của cái hồ lớn ấy có một chiếc chum của thần Ia Tiaou - gọi là Seron Iuan – (Ia Tiaou có thể là sự phiên âm từ Yă Chao = Bà Chao; Seron Iuan là Seron Yuan = Một loại ghè quí do người Việt sản xuất - NV). Vì những lí do khác nhau, người Chăm đã trút tất cả nước vào đồng bằng Menam – một vùng đầm lầy rộng lớn nằm cách hồ Teneung 5 cây số về phía bắc – khiến nước hồ cạn đi. Sau đó, người Chăm sử dụng chính chiếc chum đó bịt nguồn nước lại. Vì vậy, khi họ kéo nó ra, nước nước liền vọt lên cuồn cuộn, nhấn chìm hết tất cả những người Jrai ở nơi đó, và làm cho đầy lòng hồ trở lại.
Câu chuyện thứ hai về Biển Hồ do ông Nay Ju kể trên Nguyệt san Thượng vụ, năm 1967. Chuyện kể đại ý rằng, ngày xưa, ở một làng Jrai rộng lớn nọ, năm kia bị hạn hán, trâu bò bị dịch bệnh chết hết. Đến ngày cúng yang, không có trâu bò, tộc trưởng đành sai người vào rừng tìm bắt nai về làm lễ. Sau khi đã có nai, theo thói quen, dân làng tụ tập tại nơi sẽ làm lễ, đánh chiêng, uống rượu suốt đêm. Rồi việc cúng yang với lễ vật là nai cũng được hoàn thành, mỗi người đều được chia một phần thịt của con vật ấy, theo tục xưa. Nào ngờ, mọi người đang vui vẻ ăn uống, bỗng mặt đất rung chuyển rồi sụp ập xuống. Nước từ đâu ào ạt dâng cao, dìm chết hết tất cả dân làng, trừ vợ chồng Măk – May đang đi thăm họ hàng ở nơi khác là còn sống. Hai người sọ hãi chạy đến các làng khác, kể cho họ nghe câu chuyện của làng mình. Từ đó, vùng đất này có Biển Hồ, cũng từ đó, người Jrai không dám cúng yang bằng thú rừng nữa.
Chuyện thứ ba do ông Rơmah Del kể, trong một tập truyện cổ được in tại Gia Lai – Kon Tum, năm 1983, đại ý: Ngày xưa, Ia Nueng là một bến nước không bao giờ cạn; ba làng người Jrai ở đó luôn sống trong no đủ. Ngày nọ, yă (bà) Pôm và yă Chao ra bến gùi nước. Trên đường đi, họ nhìn thấy một con heo trắng rất đẹp. Bà Chao chưa từng thấy con heo nào đẹp như vậy, liền nói với bà Pôm rằng, mình sẽ đem con vật kia về nuôi, nếu chủ nó biết sẽ liền trả lại. Mang heo về thả, bà Pôm chẳng thấy nó đi đâu mà chỉ ủn ỉn quanh nhà, cho gì cũng chẳng ăn, đến cháo gạo cũng còn chê. Thế rồi một hôm, bà phát hiện ra con vật quí của mình chỉ thích ăn cát. Từ đó, yă Pôm nuôi heo bằng cát. Lạ lùng sao, mới ba lần trăng tròn, con heo đã to bằng trâu... Sau mùa thu hoạch, dân làng sửa soạn cúng yang. Anh em em Rok, Set được cử đi tìm heo bự. Họ đi khắp nơi mà chưa được việc, đành trở về, đến nhà yă Pôm nài nỉ. Bà không chịu nhưng rồi cuối cùng thì những người ấy cũng vây bắt được con heo khổng lồ nọ. Heo trắng được giết thịt, cúng yang, chia đều cho mọi người. Thương heo quí, bà Pôm thề rằng, nếu mình ăn miếng thịt kia, đất sẽ động, Ia Nueng sụp xuống. Không ăn nhưng vì thương đứa cháu khóc suốt một ngày đòi ăn thịt, bà đành lấy cho nó một miếng nhỏ. Thế là, ông trời nổi giận và cái gì đến đã đến. Ia Nueng thành Biển Hồ từ đấy.

Hoa phong lan
Ba huyền thoại được kể vào những thời điểm khác nhau, mỗi cái một dáng vẻ nhưng dĩ nhiên, không phải là tất cả những gì thuộc về văn hóa dân gian liên quan đến Biển Hồ. Khảo cổ học hiện đại đã khẳng định Pleiku chính là nơi bao chứa “nền văn hóa Biển Hồ”. Ở đó, nhiều trầm tích văn hóa được phát hiện, đã chứng minh rằng từ xa xưa từng có dấu chân người tiền sử…
Một hôm nào đó, đứng bên mặt hồ soi bóng thông yên bình trong vi vút gió lành, tôi thầm tự nhủ: May mắn sao, mình đang được sống ở một miền đất giàu có những tiềm năng!
N.Q.T
------------------
Nguyễn Quang Tuệ - Bảo tàng tỉnh Gia Lai, 0913 418 122; 098 8585 016.