Cao Thoại Châu

Nhng người Thy ca tôi.




     Cũng như mọi người, từ khi học khai tâm đến khi vào đời tôi có nhiều người thầy. Cho đến nay, trí nhớ vốn tệ nhưng không hiểu vì sao hình ảnh và một vài nét chấm phá của những người thầy ấy vẫn còn nguyên nét sắc trong lòng kẻ lưu giữ. Một điều lạ nữa, không có may mắn được học với các cô giáo, chỉ trong mấy năm đại học tôi mới có hai người cô, họ rất giỏi nhưng đáng tiếc lúc đó tôi đã thành một thanh niên 20 hơi bị chai. Có phải vì thiếu những người cô ở thời thơ ấu mà sau này tôi rất vụng về nóng nảy trong ứng xử, thường hay rút vào trong vỏ một con ốc?

     Bậc tiểu học tôi học tại làng, ngôi trường lợp ngói nhiều bậc thềm, bề thế sừng sững mà sau này tôi chưa hề thấy ở đâu. Gia đình gửi tôi ở trọ luôn nhà thầy dạy tôi năm lớp Nhất. Thầy Lại Xuân Tính từ xa tới làng tôi đã nhiều năm, dáng thanh mảnh nhưng cao, hàm răng đen bóng nhưng Thầy mặc đồ Tây. Đó là một người Thầy từ tốn, mẫu mực trong mọi sinh hoạt từ ở nhà tới ở trường. Tôi còn nhớ những cây bút chì của Thầy được chuốt rất nhọn, cân đối và như gọt bằng máy dù thời ấy chỉ có con dao cho việc này. Nhà thầy khá đông con, trong đó có một người thân với tôi nhất, học cùng lớp với tôi, chị khá xinh và giỏi việc nhà. Lên trung học tôi xa quê và cho mãi tới khi vào Sài Gòn mới có dịp nối lại liên hệ với gia đình Thầy, lúc này Thầy làm giám thị ở một trường trung học. Thời gian đi nhanh, khi có thể lập gia đình, tôi nghĩ đến “chị” vì nghĩ người cha là một bảo đảm cho con gái là …chỗ dựa cho tôi. Khi thăm dò thì “chị”- bây giờ xinh lắm- má ửng hồng, cười bóng gió cho biết… “cậu” lơ đãng quá! Chắc chắn là chậm mất rồi, “cậu” ngẩn ngơ nhiều ngày nhưng nghĩ “Thế cũng may…cho Thầy”!
     Trở lại với ngày tới Sài Gòn khi 16 tuổi, mất đứt một năm học lớp Đệ Ngũ ! Niên khóa 1955-1956 thi nhảy vào Đệ Tứ trường Trần Lục , một trường di cư từ Bắc vào học nhờ trường tiểu học Đồ Chiểu ở Tân Định. Sáng đi bộ từ trường đua ngựa Phú Thọ và bắt đầu học từ 10h - 2h chiều giữa cái nóng Sài Gòn gay gắt, đó là một thời khóa biểu đày ải! Học trò Thầy Doãn Quốc Sĩ năm đó. Tác giả “Dòng sông định mệnh” cuốn hút tôi vừa qua phong cách chân phương, lời giảng của một người nghệ sĩ từng trải, vừa bằng những tác phẩm của ông. Thầy Sĩ ăn mặc đơn giản như một ông đồ thích ứng được Tây học, đi mobylette tàng nhưng gịong sang sảng ấy giảng “Đôi Bạn” của Nhất Linh và bài “Giây phút chạnh lòng” ( thơ Thế Lữ) thì chao ôi!
     Tác giả “Thần Tháp Rùa”, thầy dạy Việt văn ăn mặc rất chải chuốt lịch sự, học với Thầy 3 năm và chẳng bao giờ thấy nụ cười của ông.! Một lần Thầy giảng chỗ Kiều bị bán về Lâm Truy, không hiểu ma đưa lối quỷ đưa đường thế nào mà tôi lại buột miệng nói leo “Kiều mất trinh…”. Đận ấy thêm một lần tôi hiểu cách “chửi” học sinh của ông thầy dạy văn. Và sau khi nghe nhức tai xấu hổ với bạn bè chỉ muốn chui xuống gầm bàn, cũng không hiểu sao vốn là kẻ nhút nhát mà tôi lại hỏi “Thưa thầy, không…mất trinh thì là gì ạ? ”, đôi mắt to của người Thầy lạnh nhìn xuống lớp: “Là…thất thân…!”. Thì ra thế! Trau chuốt áo quần, trau chuốt ngôn từ,đi dạy không thấy dùng xe gắn máy mà chuyên trị xích lô-Vũ Khắc Khoan là vậy! Sau này trở thành người dạy học, không biết tự bao giờ cách giảng bài, đi đứng, la rầy học trò và cả việc hút thuốc trong lớp không cần hộp quẹt…có lúc chợt nhận ra mình mang chất “Vũ Khắc Khoan” trong người.
     Lên lớp cuối trung học, là học trò Thầy Nguyên Sa, nhận ở ông một mẫu nhà thơ - giáo sư, dạy triết không đầu bù tóc rối, không “gàn gàn”, trái lại Thầy rất thoáng vui vẻ têu tếu giảng bài nghe như lọt vào xương. Riêng với tôi, kẻ trốn học thường xuyên liên tục chỉ vì toán-dốt, lý hoá-kém,vạn vật-lười, thì giờ triết là giờ duy nhất tôi có mặt. Trường Chu Văn An của tôi thời ấy rất “hách” ở chỗ, thầy nổi tiếng, trò học giỏi và nghịch hơn mọi trường khác, cũng là do “chấp nhận” cá tính ấy mà trường “kệ” cho tôi trốn học?. Nhưng Thầy Lan thì bảo “Khi đi thi đừng nộp học bạ (vì tôi trốn luôn cả thi lục cá nguyệt) họ không vớt cho đâu, ráng sao cho đủ điểm”.Và tôi không rớt tú tài, khi vào vấn đáp trúng ngay thầy thật sung sướng không còn gì để đo,Thầy cười rất tươi đầy thiện cảm và cho…14 điểm, một điểm không cao! Nhà thơ mà kẹo, tôi oán Thầy! Xong tú tài không gặp Thầy trong nhiều năm, lúc tôi ra trường, trong nhiều kỳ chấm thi Thầy trò gặp nhau, khác với những nhà thơ cùng trang lứa gọi Thầy là anh, tôi vẫn xưng hô với Thầy như cũ, không phải quá câu nệ mà vì tôi không thích ồn ào một quan hệ mới mà quên quan hệ cũ.
     Cho đến một ngày, lâu sau ngày rời ngôi trường ấy, chúng tôi có dịp gặp nhau hàng ngày trong Thủ Đức đội nón sắt đi giày saut. Lúc ấy tôi mới nhận ra Thầy nhiều hơn: khó tính mà tinh tế giả lơ như không nhận ra gì. Thời gian ở Thủ Đức là lúc Thầy và một thư ký tòa soạn tờ báo có tiếng đang xảy ra bất hòa nặng. Có thể vì biết tôi đang viết ở đó và cũng có thể vì bản tính của ông nên không một lần nào Thầy có nhận xét không tốt về người kia, một người tôi cũng rất yêu mến. Bị kẹt giữa “hai làn đạn...cà nông”, tôi cũng khổ tâm nhưng không một lần hé môi. Thầy có vẻ bằng lòng về sự tỉnh bơ ấy của tôi.
     Trong ngày mãn khóa, người ta đọc tên tôi được về một đơn vị nghe khá “cù lần” nhưng xem ra chữ thọ thì lớn thuộc ngành quân nhu mà lại ở ngay Sài Gòn.
     Một lần đi công tác về Cục Quân nhu, có việc phải vào phòng ông Cục trưởng, đọc giấy tờ tôi mang đến bỗng ông cười hỏi: Cậu là CTC hả? Có đọc thơ cậu, sao mà chán chiến tranh đến thế. Cậu là thế nào với ông Lan, ông ấy là bạn tôi đấy”, “Thưa,tôi là học trò của Thầy”,ông đại tá bảo “Lan nói tôi lấy cậu về đây đấy!”. Thì ra là vậy, Thầy là thế đấy, Thầy ơi!
     Bốn chục năm sau, năm 1996 một nhà xuất bản làm tuyển tập về người thầy, tôi góp một bài trong đó hình tượng người thầy là tổng hợp các vị thầy mà tôi yêu mến.

Bài toán Thy cho!


                          Thầy hỡi, lòng con xao xuyến quá
                           Giờ này ở đâu đó đang mưa
                           Hoặc giả chìm sâu trong ký ức
                           Ướt hồn con trăm lối đi về

                           Thầy đi xa.Thầy không thể mất
                           Không nằm im trong đất bao giờ
                           Có những kẻ sinh ra để chờ cái chết
                           Thầy vượt lên điều sinh ký tử quy

                           Tự bao giờ điểm thấp thầy cho
                           Và chiếc roi đung đưa ngày trước
                           Theo cơn rét đông lặn vào da thịt
                           Hạt nảy mầm thành bóng mát đời con

                           Con vẫn yêu ánh sáng mặt trời
                           Mảnh trăng khuya vẫn một mình đứng ngắm
                           Trăm giây phút bẽ bàng tê điếng
                           Con tự buồn không muốn sẻ chia ai

                           Con đang đứng trên lầu cao nhìn xuống
                           Hành lang dài hun hút gió xanh trong
                           Dầu mù u đã thay bằng ánh điện
                           Soi lòng đời không thấy rộng thêm hơn

                           Và những băn khoăn và những đau buồn
                           Hoặc Thầy giấu những điều không thể nói
                           Bài toán đố Thầy muốn con tự giải
                           Đêm chập chờn le lói một vầng trăng!
                           Sàigon, 1996

                                                      Cao Thoại Châu
                                                        Chín2ngàn10