
Như một nén nhang tưởng niệm
Anh Đặng Xuân Ninh (cựu học sinh Minh Đức &THPK).

Tin anh qua đời đến với tôi quá đột ngột cũng như sự ra đi của anh, làm người thân và bạn bè đều bàng hoàng, ngỡ ngàng. Ở cái tuổi đang độ chờ thu hoạch, hưởng lộc sau bao năm tháng lao đao, lận đận, gian nan, vất vả gieo trồng, thì anh lại ra đi….
Tôi quen biết anh từ khi nhà tôi chuyển về cuối xóm khu phố 55. Không gần nhà anh lắm nhưng nhà anh có một quán bán tạp hoá nhỏ ở khu phố 54, ai cần gì lặt vặt đều chạy tới ngày 5, 7 lượt nên tôi cũng thế. Ba anh làm thợ may, thường may đồ cho cả xóm, trong đó có anh em tôi. Anh có bà cô tên Xíu nên thường gọi quán bà Xíu. Anh lớn hơn tôi 2 tuổi, học trên tôi 1 lớp. Ban đầu, thì thấy không thân thiện lắm vì anh và gia đình là dân cố cựu, có vẻ thuộc tầng lớp trung lưu, còn tôi dân mới nhập cư, còn thiếu thốn, khổ cực. Nhưng nhờ đi học chung đường, chung trường. Về nhà thường “giao dịch mua bán”, lúc cây kim, cuộn chỉ, lúc chai mắm, lạng tôm khô… nên qua chuyện trò dần dần thấy hợp nhau, thân nhau. Anh em bạn bè cùng thời, cùng trang lứa, trai cũng như gái ở trong xóm, bây giờ tôi chỉ còn nhớ có vài người, nhưng anh là người tôi không thể quên, người có ảnh hưởng đến tính cách và hoạt động của tôi từ thời còn đi học đến nay. Đó có thể là nhiều điều nhưng tôi chú ý và tự lấy anh làm tấm gương là tuy giàu có (so
với tôi, vì nhà anh buôn bán, tiền bạc lúc nào cũng rủng rỉnh, có sẵn) nhưng sử dụng đồng tiền đúng cách, chủ yếu cho việc học và nâng cao kiến thức, không xa hoa, ăn chơi sa đoạ. Mỗi khi tôi đến quán mua hàng, (thường thì sau giờ đi học về) lúc nào cũng thấy anh cầm trên tay quyển truyện, hoặc sách dày cộp, tôi hỏi thì anh nói tranh thủ đọc thêm.
Những năm học Tiểu học ở Trường Minh Đức, quan hệ thân thiện, bình thường. Từ khi lên lớp Đệ thất Trường THPK, khi tôi được cô Hạnh (Giáo sư Hướng dẫn, dạy Việt Văn) và cả lớp bầu, giao tôi làm Trưởng ban Báo chí lớp (oai ghê), tôi tìm đến anh nhờ tư vấn, giúp đỡ. Anh bắt đầu cho tôi lên căn gát gỗ, vừa là nơi ngủ nghỉ, vừa là góc học tập. Nơi ấy có một cửa sổ rộng, nhìn ra đường, ngoằn ngoèo xa tít tắp…. dễ có cảm hứng làm thơ. Có một tủ sách rất quí giá như một thư viện nhỏ mà tôi thường được mượn tham khảo và tôi cũng bắt đầu để dành tiền mua báo, sách từ đó.
Theo Huỳnh Tấn Trọng và một vài bạn bè cùng lớp với anh mà tôi biết, anh học không giỏi lắm nhưng cũng luôn ở “tóp ten” của lớp. Anh thường hướng dẫn tôi các môn Toán, Lý. Còn thơ, văn thì anh cũng tập làm và giao lưu với bạn bè qua “tìm bạn bốn phương” khá nhiều. Tôi đã từng đọc nhiều lá thư, nhiều bài thơ của các nàng (mà sao hồi đó chỉ giao lưu với nữ chứ không có nam) viết trên giấy pơluya xanh, mực tím, có nàng còn chép cả mấy tập thơ của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận v.v... gửi cho anh (sau này tôi cũng được như thế, phấn khởi vô cùng).
Tôi cũng tập làm thơ và đưa anh nhờ tư vấn, góp ý, chỉnh sửa. Sau một, hai bài đầu, tôi nhớ anh nói: “Thơ H. có ý tưởng hay nhưng nên chú ý thêm vần, điệu” (anh không bao giờ xưng hô mày tao). Một hôm tôi đưa cho anh xem bài thơ mới, anh ngạc nhiên: “Mày làm thơ hay hơn tao rồi”, tôi cũng ngố ra, ngơ ngác: “ Thật à, mà sao lại mày tao thế?”; “À, xin lỗi, hay quá”. Đó là bài thơ “Hoa tháng giêng” tôi viết năm lớp 10, sau đó tôi gửi báo “Tuổi Hoa” theo dõi mấy tháng liền không có đăng nhưng sau đó có cô em thằng bạn chúc mừng đòi khao. Bây giờ thất lạc tôi cũng chẳng nhớ, thuộc hết bài thơ, chỉ nhớ: “Tháng giêng, hoa rộ nở đầy hồn, giữa mùa thi, lòng thoáng bâng khuâng”, có lẽ hợp với tâm trạng anh đang chuẩn bị thi Tú Tài 1 năm ấy. Nhờ thế, tôi thêm hứng khởi, hoàn thành nhiệm vụ của Trưởng ban Báo chí lớp nhiều năm và cũng từ đó được các thấy cô: Lê Mỹ Dung, Lê Quý Ánh, Lê Văn Lập, Võ Thu Lương, Thái Văn Duy …động viên, hổ trợ nên tôi cùng một số bạn bè đã thành lập bút nhóm “Khơi Nguồn” để giao lưu, sinh hoạt, trao đổi thơ văn, liên kết tình cảm, giúp nhau trong học tập và cuộc sống thêm ý nghĩa.
Năm 1972, sau mùa hè đỏ lửa, anh đỗ Tú Tài 1 (tôi nhớ hinh như Hạng Bình), lệnh Tổng động viên tuổi 17 ban ra, anh từ giã mái trường, bè bạn đi Sĩ quan Thủ Đức. Năm 1974, lúc ấy tôi cũng chuẩn bị giã từ mái trường thì anh chỉnh tề trong bộ quan phục về thăm nhà trước khi đến nhận nhiệm vụ ở Phân Chi Khu (Lệ Cần?). Sau đó, tôi nghe bị đụng trận tơi tả và tôi cũng đã rời Pleiku, đứt liên lạc.
Đến 1987, tôi tìm về PK không một lời hò hẹn. Về xóm cũ, nơi tôi đã ở và tìm đến anh cùng một vài bạn khác. Anh đã kể về những ngày khói lửa chiến tranh, kể về những tháng năm trong trại cải tạo, về những khó khăn trong cuộc sống sau giải phóng. Tuy thế, anh không có một lời nào oán trách số phận hay thời thế. Lúc ấy anh đã có vợ và 2 cháu nhỏ, tôi có gặp và chào chị, nghe đâu cũng ở trong xóm mà thuộc lớp sau nên tôi không biết.
Năm 1998, lần thứ 2 về lại PK nhân dịp đám cưới con của bạn thân. Tôi ghé lại nhà cũ thì nghe anh cùng vợ con đã vào Đức Cơ lập nghiệp, cô em anh cho số điện thoại, tôi điện hẹn anh về phố để anh em có dịp gặp, thăm nhau. Anh đi xe chiếc Hondo 67 giữa trưa nắng, từ Đức Cơ vượt hơn 60 cây số đến tìm vợ chồng tôi ở nhà khách Sở TDTT Gia Lai. Gặp nhau chuyện trò chỉ mấy phút, hỏi thăm chưa được gì nhiều, uống chưa xong ly nước thì phải chia tay vì xe đã đến đón tôi, gia đình và vài bạn bè đi tham quan Thuỷ điện Ya-Ly. Anh lại phải quay về Đức Cơ. Trên xe tôi thấy thương anh cảnh đường xa, vất vả, mục đích gặp bạn mà ngắn ngủi quá, tiếc công thật.
Năm 2007, anh tổ chức đám cưới cho con, điện, nhắn tin mời, cho địa chỉ nhà mới. Tôi bận việc nên không đi sớm hơn, khi đến thì đã trể giờ ở Nhà hàng. Chiều đến nhà anh chúc mừng các cháu, ngồi chuyện trò hỏi thăm được biết cơ sở ở Đức Cơ để lại cho cô con gái lớn, nhà cũ của ông bà già thì nay giải toả, đền bù nên mua đất, cất nhà ra ở đây. Bây giờ vợ chồng già ở nhà trông cháu thôi, hiện vẫn chưa biết làm thêm gì cả.
Trong lúc tôi vừa tìm được bạn bè xa cách sau 35 năm qua trang web liên trường. Đang tập tò gõ chữ, gửi mail thì anh đã đọc và gởi tin nhắn offline ngợi khen. Anh gởi cho tôi mấy bài nhạc xưa như “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Còn một chút gì để nhớ” , “Thà như giọt mưa” v.v…và một số ảnh được đưa vào clip hẵn hoi, có nhạc nền, lời bình khá ấn tượng. Tôi hỏi anh “tự chụp, tự làm hay nhờ chuyên gia” , anh bảo anh tự làm. Tôi khen anh và nhờ anh dạy thêm. Anh hứa … và giờ thì chỉ là hứa hẹn …
Dịp 30/4 – 1/5/2009 tôi đi công tác, ghé lại PK một đêm mà khi đến đã tối nên không gặp được anh. 15/8 vừa rồi đi đám cưới con của bạn, hẹn gặp thì anh nói đang cùng gia đình đi Hà Nội dự đám làm tuần 49 ngày của ông anh vợ. Chủ nhật vừa rồi khi gia đình tôi đang chuẩn bị liên hoan cuối tuần thì nhận được tin báo anh đã mất vì tai biến. Thế là xa, xa mãi… Tôi điện thoại số máy di động của anh may ra có vợ con bắt máy để chia buồn nhưng không được. Sau phải nhờ bạn bè ở PK trực tiếp gửi lời chia buồn. Buổi chiều trong lúc tôi say say thì có cuộc điện thoại từ máy anh gọi tới. Tôi không bắt máy mà nói với vợ tôi, “em nghe dùm, đây là số máy của anh Ninh, người chết gọi anh đấy”. Vợ tôi sợ không dám bắt máy. Tôi ngủ một giấc cho qua cơn say, rồi suy nghĩ phải viết gì cho anh đây. Viết để giải bày, viết để tưởng niệm, để hy vọng trong cuộc đời này còn nhiều tấm thâm tình như thế và hơn thế nữa…
Như một nén nhang gửi đến anh. Xin chúc anh sớm phiêu diêu miền cực lạc.
Trương Thanh Huyền
Cựu HS THPK
(truongthanhhuyen40@yahoo.com – cell 0983663020)