CÂU CHUYỆN KHÔNG MUỐN KỂ (Phần 2)
Tiền Giang
*Kỷ niệm 35 năm, Viết với góc độ một người dân ngày đó!
......
Màng đêm buông xuống.Phố Núi vẫn sáng rực nhìn từ đàng xa,nhưng không phải thứ ánh sáng diễm lệ của những ngọn neon màu mà là ánh sáng chết chóc do đám người hôi của và cướp giật gây nên.Khoảng trống quyền lực chưa kịp lấp đầy.Người chủ cũ đang tháo chạy nhưng chủ mới thì còn cách thành phố một cung đường.Đây là thời điểm vàng cho bọn người táo tợn và tham lam.Các cửa tiệm mặt phố đều bị bắn nát ổ khóa.Tiền bạc thì không thấy nhưng hàng hóa vung vẩy khắp chốn.Nhiều thứ ngày thường phải mua bằng tiền giờ bị vứt bỏ không thương tiếc chỉ vì chúng nặng và vướng.Nếu có ai đó biết trước thời cuộc mà bạo gan ở lại thì chưa chắc đã được yên thân với những kẻ thừa nước đục thả câu kia.Chiến tranh loạn lạc là thế.Con người không hề làm chủ được bản thân mình.Trong hoàn cảnh đó,vốn đã bé nhỏ,ta lại càng thấy mình bé nhỏ hơn.
Xe không có mui nên tôi và người bạn đều đứng thẳng người để nhìn cảnh vật.Phía trước là một hàng dài dằng dặc màu đỏ âm u của những bóng đèn hậu xe hơi.Phía sau là chuỗi ánh sáng chói mắt của đèn pha, giống một con rồng kéo dài vô tận.Xe chạy còn chậm hơn cả đi bộ.Tiếng động cơ cứ rì rầm rì rầm nghe thật buồn.Thỉnh thoảng có một chiếc bị chết máy nằm ì tại chỗ thế là vang lên những tiếng la ó, quát nạt,thúc giục.Tài xế vội vàng ba chân bốn cẳng nhảy xuống sửa chữa.Thế nhưng các xe phía sau không chịu chấp nhận sự chậm trễ nên một đoàn người đông đảo ập đến,hò nhau kéo chiếc xe bị hỏng bỏ sang một bên để lấy lối đi.May mà ngày đầu chưa thấy bóng dáng của truy binh nên tuy có mệt nhưng vẫn còn yên tâm.Đây là con đường bỏ hoang nên đầy ổ voi ổ gà.Chiếc xe hết nghiêng bên này lại ngã sang bên kia như người say rượu.Đoạn từ ngả ba Mỹ Thạch đến Phú Bổn thì tương đối,nhưng phần còn lại thật giống con đường dẫn đến địa ngục.”Con đường đau khổ”của nhà văn Aleksei Tolstoy so với Liên tỉnh lộ 7 thật chẳng ăn nhằm gì.Một vài xe đi trước bị vấp phải mìn.Những chiếc cáng thương chạy ngược về trung tâm tỉnh lỵ Phú Bổn.Trong hoàn cảnh này chắc gì còn nhân viên y tế trực ở đó để cứu chữa.
Về khuya,cái đói đã thắng cái sợ nên đoàn xe dừng lại để lo chuyện cơm nước.Vì mới khởi đầu nên gia đình nào cũng còn đầy đủ dụng cụ bếp núc và lương thực mang theo.Tuy là bữa cơm di tản ngoài trời rất đạm bạc nhưng ai cũng ăn ngấu nghiến vì đói.Xa xa vẫn nghe tiếng đại bác vọng về.Tận một nơi nào đó thỉnh thoảng lại có chùm pháo sáng bắn lên rồi vụt tắc để lại trên bầu trời những vầng khói trắng nham nhở.Trong bóng tối, từng đoàn người lần mò đi qua với những chiếc đèn pin nhỏ xíu trên tay.Họ gọi hết tên người này đến người khác.Cha lạc con,vợ lạc chồng,anh lạc em nhưng không cách nào tìm được.Trong biển người mênh mông đó,biết bao nhiêu gia đình ly tán mà rồi không bao giờ có ngày đoàn tụ.Chỉ riêng đoàn quân thất trận đã trên mười vạn người.Kèm theo họ là những người thân.Ngày đó, tuy không bằng bây giờ nhưng dân cả ba tỉnh gộp lại thì đông biết dường nào.Thật ra,không phải tất cả đều đổ dồn về con đường “định mệnh”đó nhưng chỉ cần một phần nhỏ thôi đủ cho ta hình dung một con số khổng lồ.Nguyễn Du trong truyện Kiều từng bảo”Ngựa xe như nước..”,nhưng với Liên tỉnh lộ 7 hiện giờ thì lượng xe di chuyển còn nhiều hơn nước.Thành phố Tuy Hòa đang hướng một thỏi nam châm cực lớn hút sạch nhân tài vật lực của Tây Nguyên.Ngồi viết những giòng này,nhớ lại bao cảnh chia lìa thương tâm, tôi nghĩ giá ngày ấy có điện thoại di động như bây giờ thì hay biết mấy.Mọi người sẽ dễ dàng biết được tình hình của nhau,hẹn nơi gặp lại, cũng như vỗ về,an ủi nhau trong cơn hoạn nạn.Sự chậm trễ của khoa học kỷ thuật đã làm hại biết bao người trong hoàn cảnh này!
Hai ngày yên bình trôi qua.Nỗi khổ mới bắt đầu xuất hiện.Đang còn mùa Xuân nhưng cảnh vật hai bên đường lại khô không khốc.Mới chín giờ sáng,mặt trời đã tỏa hơi nóng như thiêu như đốt.Xem chừng Thái Dương Thần Nữ không hề biết xót thương những con người khốn khổ đang chạy trốn chiến tranh.Sai lầm lớn nhất trong chuyến đi có lẽ là chuyện nước uống.Trong danh mục thực phẩm mang theo không thấy đề cập đến thứ chất lỏng mà có lúc sẽ quý hơn vàng ấy.Có lẽ, trong tâm tư, mọi người đều nghĩ, nước lã thì chỗ nào chả có mà phải mang theo nhiều cho nặng.Trên những chiếc xe bịt bùng,người lớn lẫn trẻ con đều nhễ nhoại mồ hôi.Mà nguyên tắc đã mất nước thì phải bù lại.Nhịn đói đôi khi còn có thể nhưng chịu khát thì được mấy người?Chúng tôi cũng không thể ngoại lệ.Đến trưa thì sự chịu đựng có vẻ đã cạn.Ở nhà,nước đun sôi còn phải lọc lại nhưng giờ đây nhiều người chỉ mong có để uống,bất biết đó là thứ nước gì.Câu chuyện những người bị lạc trong sa mạc phải uống cả nước tiểu chắc không phải bịa đặt.
Nhân lúc xe dừng lại không biết vì lý do gì,tôi cùng mấy người nữa xách cái ấm nhôm đi tìm nước.Xuống khỏi con dốc dài,băng qua một vạt đồi vẫn chưa thấy cái mình cần.Môi người nào cũng khô nẻ và trắng bệt.Một số đi theo chúng tôi vì quá mỏi mệt nên bỏ cuộc.Đất bỏng rát dưới chân.Đi thêm độ trăm mét,đột nhiên mấy khoảnh ruộng mở ra trước mặt.Một vũng nước lấp lánh dưới ánh mặt trời.Mừng như bắt được vàng,hai thanh niên đi cùng với tôi phóng thẳng xuống ruộng,dùng ấm múc nước uống ngon lành.Chậm chân hơn nên tôi có thì giờ nhìn thấy bên kia vũng nước,mấy cô gái người dân tộc Bana đang đứng giặc váy.Họ vừa vung vẩy những chiếc xà rông dệt bằng thổ cẩm cho ráo nước vừa nhìn chúng tôi bằng ánh mắt ngạc nhiên khôn xiết.Hoảng hồn,tôi kéo vội chiếc ấm khỏi mồm một thanh niên và la lên”Nước dơ!Họ đang giặc đồ kia kià”.Cả hai cùng ngước nhìn lên.Đột nhiên anh chàng mặc áo karô đứng bên phải tôi buông chiếc ấm và nôn thốc nôn tháo.Mặc dù đang khát cháy cổ,tôi không thể nào nuốt nổi thứ nước kinh tởm đó.Trong cái khó ló cái khôn.Tôi nghĩ ruộng có nước ắc phải từ một nơi nào đó dẫn đến.Chúng tôi men theo con mương nhỏ và phát hiện một ống tre người dân tộc cắm vào bờ đất để lấy nước mạch mà họ gọi là giọt nước.Anh chàng Robinson phát hiện mấy hạt thóc sót lại trong chiếc bao đay,mừng rỡ như thế nào thì chúng tôi hiện giờ cũng giống như vậy.Giòng nước tuy chỉ chảy yếu ớt nhưng trong veo và mát rợi.Chẳng còn kiên cữ,chúng tôi uống một bụng lặc lè và xách ấm nước quay về.Trên đường đi,cái ấm chứa chỉ hơn một lít nước chưa đun chưa nấu đó đã có người gạ đổi hai chỉ vàng nhưng tôi đành chịu vì còn bao nhiêu người đang nhịn khát ở trên xe.
Ngày thứ tư, tính từ lúc khởi hành,địa ngục trần gian mới thực sự mở cửa đón khách.Cái đói khát,cái nóng bức thay nhau giày vò con người.Suốt mấy hôm chỉ ăn toàn đồ hộp nên ai cũng ngán tận cổ.Thiếu rau xanh,mặt người nào cũng vàng vọt bơ phờ.Trẻ con kêu khóc vì đói và thiếu sữa nghe đến não lòng.Chúng tôi không biết mình hiện đang ở địa phương nào?Chỉ thấy hết ruộng đến rừng ,họa hoằn mới thấy một chòi lá của người dân tộc dựng lên để trông chừng hoa màu.Xe lại dừng vì tắt đường.Trong tầm mắt những người di tản đột nhiên hiện lên một rẫy ngô xanh biếc phía bên kia đường.Không ai bảo ai,những thanh niên khỏe mạnh âm thầm chuồn vào ruộng ngô.Sự xấu hổ giữ chân tôi gần năm phút.Đứng nhìn những hoa ngô lay động kèm với tiếng sột soạt tôi biết ở trong đó bọn họ đang làm gì.Cảm giác thèm chất xanh cứ ứa ra đầu lưỡi.Ối dào!Chiến tranh nguy khốn thế này biết sống hay chết mà còn sĩ diện.Tôi tự an ủi mình như thế để lấy chút dũng khí chui vào ruộng ngô.Trời ạ!Những quả ngô non ăn sống mới ngọt làm sao!Có lẽ không một thứ cao lương mỹ vị nào sánh nổi những hạt ngô còn mềm bắn ra thứ chất lỏng trắng đục,sền sệt.Xin cảm ơn những người nông dân đã tạo ra ruộng ngô này.Nó còn quý hơn bát cơm Phiếu Mẫu mà Hàn Tín đã nhận trong lúc cố cùng.Hoài Âm Hầu(1) còn có cơ duyên báo đáp, nhưng chúng tôi biết tìm đâu để trả lại công sức cho họ bây giờ?
1.Tước vị Hán Cao Tổ ban cho Hàn Tín.Lúc mới khởi nghiệp,họ Hàn phải sống nhờ vào những bát cơm khó nhọc của một bà già giặc thuê.
(còn tiếp)
Tiền Giang