uổi sáng ngồi uống cà phê ở một quán nhỏ. Chợt nghe bài hát trầm buồn
“Mùa thu chết” của Phạm Duy, Triết, bạn tôi hỏi :
- Ông có nhớ Dương Văn Vân học lớp mình, hồi xưa hay hát bài này không?
- Nhớ. Tôi gật đầu đáp khẽ.
Ký ức hồi đọng trong tôi về một người bạn. Về Dương Văn Vân. Hồi Đệ Tam, hắn thường đọc nghêu ngao cho tôi nghe bài thơ “L’adieu” (Lời vĩnh biệt) của nhà thi hào Pháp Appolinaires :
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est mort souviens t’en…
(Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi…)
Bùi Giáng
Hắn đọc nghe ngồ ngộ, nửa Pháp, nửa Anh (vì hồi ấy hắn cùng tôi học tiếng Anh là chính). Tôi hỏi hắn làm sao biết bài thơ này. Hắn trả lời đã sưu tầm trên một tạp chí văn học. Hắn rất say mê văn chương và đọc sách suốt ngày đêm.
Trước lúc xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, Vân hát bài “Mùa thu chết” cho chúng tôi nghe. Giọng Vân không hay, nhưng rất tha thiết khiến chúng tôi bồi hồi.
Trở lại cuộc đời học trò của Vân.
Vân và tôi cùng học với nhau từ thời tiểu học đến đệ nhất và đệ nhị cấp, cùng lớp Anh văn ban B trường Trung học Pleiku.
Vân thường giỏi môn Văn (nên thường cùng Ngọc Hương thi nhau đoạt quán quân môn này).
Dáng Vân cao gầy, có 2 răng khểnh nên nụ cười dễ thương. Có lối sống lặng lẽ, ít giao du bạn bè. Trừ tôi vì tôi cũng đồng sở thích với Vân - đọc sách và nghe nhạc.
Những giờ học trống, dù nắng hay mưa, chúng tôi thường kéo nhau lên quán cà phê Dinh Điền ngồi nghe nhạc. Đường đến quán lúc ấy nắng thì bụi đỏ, mưa đường lầy lội, nước chảy thành dòng nhưng hai đứa vẫn cứ đến thưởng thức những ly cà phê đá, nâu sánh thật ngon. Tiếng nhạc Trịnh do Khánh Ly hát dù lúc ấy phát ra từ chiếc máy magnétophone (kay reels) nghe rè rè nhưng cũng đủ đưa chúng tôi chìm vào những suy tư. Nghĩ về thân phận mình khi cái bóng chiến tranh đã phủ dần lên cuộc đời.
*
* *
Kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nhất là năm chúng tôi học lớp Đệ Ngũ. Khi ấy cô Bùi Mỹ Dương ở Sài Gòn ra dạy Văn lớp chúng tôi. Giọng nói Bắc nhẹ nhàng cùng với dáng dấp mảnh mai trong chiếc áo hoa cô thường mặc. Cô xinh và dịu dàng quá nên cả lớp thích học môn Văn của cô. Dĩ nhiên là có anh chàng Vân của chúng tôi. Vân xung phong đọc bài, viết tiêu đề bài học (chữ của Vân đẹp và “făng” như thư pháp).
Có lần, cô giao cho Vân và tôi phụ trách nhóm trần thuyết (thuyết trình) về đề tài “Cao Bá Quát nhà thơ ngạo thế, khinh đời”. Ngày thường, Vân ít nói. Nhưng đến khi lên trần thuyết, Vân nói rất hùng hồn, đôi mắt bạn ấy sáng rực, khua tay múa chân. Như có sự đồng cảm giữa cuộc đời của nhà thơ thuở xa xưa với niềm đau về cuộc đời đang ấp ủ trong Vân.
Hai câu thơ Hán của Cao Bá Quát :
Quá Dục sơn đăng cao
Hạo ca ký vân thủy
(Ta muốn trèo lên trên đỉnh cao ngất
Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước)
Mà Vân đọc hôm ấy nói lên ước vọng tuổi trẻ của bạn và cũng là dự báo cho đời Vân…
*
* *
Trong năm này, nhóm trần thuyết chúng tôi thừa thắng xông lên là “làm báo”. Chả là nhà trường tổ chức làm bích báo (báo tường). Các anh, các chị lớp trên lấn sân trên báo quá nên chúng tôi không có cửa lọt vào. Chúng tôi quyết định ra tờ tập san riêng của mình. Có lẽ đây là những ý tưởng “vụng dại” của tuổi thơ. Thực tế là khó thực hiện vì giấy báo, phương tiện in ấn không có. Nhưng với gợi ý và phân công của Vân, tập san được ra đời như là một guiness của chúng tôi :
Dương Hùng có bố là sếp của một đơn vị đã nhờ được các chú (là lính của bố Hùng) cung cấp giấy pelure và đánh máy bài vở.
- Ngô Tấn Phú cung cấp giấy bìa Tập san cho Dương Vân vẽ.
- Các bạn khác như Dương Trí Quang (em chồng cô Dương), Đỗ Sơn, Đình Huy, Phú, Vân, tôi… đều có bài đăng như truyện, sưu tầm, dịch, cười…
“Tập san Ngũ 1” ra đời : Biên tập là chúng tôi. Độc giả là chúng tôi. Độc giả ngoài duy nhất là cô Dương khi Trí Quang đưa cho cô xem…Cô mỉm cười không nói. Chúng tôi hiểu rằng có một chút thành công nhờ nỗ lực lớn lao của Vân. Đó là “một báu vật” kỷ niệm tuổi thơ chúng tôi.
*
* *
Giờ ra chơi cuối cùng của Vân vào buổi chiều hè. Chúng tôi đứng ở khoảng sân được che mát bởi vách tường phải của ngôi trường hai tầng. Nhìn lên vách tường có dấu vết của những “viên đạn mùa xuân 68” được trét vữa lại, Vân lặng buồn khẽ nói :
- Mai tao đi rồi, mày gởi lời chào của tao đến Tam B - Anh của mình và tất cả Thầy Cô.
- Tại sao chiều nay mày không nói lời chia tay? Tôi hỏi.
- Tao không muốn có sự quyến luyến, bịn rịn…
- Thế còn mối tình câm của mày thì sao?
Hồi ấy chúng tôi thường trêu đùa, chọc Vân với Ngô - Kim (một trong những “thất nữ” cùng học ban B cùng Vân với tôi: Ngọc Hương, Ái Liên, Ái Loan, Ngô-Kim, Ánh Tuyết, Thu Thủy, Sông Gianh).
Vân và Ngô-Kim có giọng Bắc, cùng có đặc điểm là hiền lành, lặng lẽ. Có lẽ, Vân cũng ngầm đồng tình với sự gán ghép ấy. Hắn mỉm cười ghé vào tai tôi nói “Khi nào tao thành công trên đường đời, tao sẽ hỏi thăm Kim” - Và hình như chuyện ấy không bao giờ xảy ra!
Vân đã âm thầm ra đi vào năm Đệ Tam mà có ít người bạn của tôi cũng như Thầy Cô biết!
*
* *
Tôi nối gót theo Vân sau một năm. Chúng tôi vẫn bặt tin nhau.
Một buổi sáng đẹp trời Chủ Nhật. Tôi bất chợt gặp Vân đang lửng thửng đi trên con dốc từ rạp hát Ngọc Lan đến Chợ Mới (Đà Lạt). Ôm chầm lấy nhau vì nỗi xa vắng lâu ngày của đôi bạn cách xa. Đưa nhau vào quán kem. Chúng tôi hàn huyên tâm sự. Vân đã là một người lính thông tin viễn thông trên một đỉnh núi cao heo hút nào đó mà Vân không chịu nói ra. Vân sống cô đơn giữa gió núi mây ngàn. Tôi hỏi thế bạn thỉnh thoảng có đi kiếm cho mình một mảnh tình “vắt vai” không. Vân trả lời, một đôi lúc rãnh rỗi Vân “hạ sơn” và đến một quán nước gần đó. Gặp cô gái của chủ quán là một sinh viên Văn khoa. Nói chuyện rất hợp nhau về Văn học, Triết học trong ngoài nước. Ấn tượng về các văn nghệ sĩ thời đó như : Vũ Hạnh, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Kim Tuấn,… Đôi bên tỏ ra là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Tình cảm nảy nở thoáng qua. Lời từ biệt mau chóng đến với Vân và người ấy. Vì… Vân chỉ vào cái Cánh Gà (trung sĩ) trên tay áo nói :
- Ta chỉ là một gã Quasimodo (lưng gù xấu xí) trước một nàng trinh nữ Esmeralda xinh đẹp trong truyện Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Nàng chỉ có chút thương hại cho thằng Gù khi gặp mọi biến cố, ngã vào vòng tay che chắn của thằng Gù. Còn “bờ vai” để dựa để thương yêu chắc là không!
Tôi xót xa trước sự bi quan của Vân
Chia tay nơi quán kem, chúng tôi mỗi người một ngã.
Từ đó, biết địa chỉ, Vân thường gửi thư cho tôi. Những lá thư ban đầu là thăm nhau và tâm sự những điều trong cuộc sống…
Bẳng một thời gian lâu.
Thư của Vân gửi cho tôi mang màu sắc yếm thế, đầy dẫy những ngôn từ triết học mà tôi không hiểu ra. Vân đã rơi vào “hố sâu” (hố sâu tư tưởng của Phạm Công Thiện), cùng những tư tưởng khác của các triết gia : Schiller, Hégel…, mông lung và mơ hồ. Tôi chỉ hiểu được có một câu của Hégel “ý thức bản ngã chỉ có thể được thỏa mãn trong một ý thức bản ngã khác” (tình cảm cho chính mình chỉ có thể được đền đáp bằng một tình cảm khác).
Niềm tin, sức sống, quan niệm, cuộc đời và năm tháng lại trôi qua… Sau này, hoàn cảnh xã hội thay đổi và đã rất nhiều năm chúng tôi mất liên lạc nhau.
*
* *
Bây giờ nghe Triết nhắc lại. Nỗi ưu tư của tôi về Vân lại bùng lên với sự hối hận vô cùng. Tôi tự trách mình, sao lúc ấy tôi vô tư quá, đã không tìm gặp, an ủi, và chia sẻ kịp thời, trong khi bạn và tôi đang ở gần nhau - cùng chung một vùng trời Đà Lạt…
Không biết bây giờ Vân đang ở đâu, dù chân trời hay góc biển, tôi vẫn cầu mong cuộc đời của bạn luôn có nhiều điều tốt đẹp và ngày nào đó bạn sẽ quay về - Xóm nhỏ Hoa Lư Pleiku - Mái nhà êm ấm ngày xưa của bạn. Chúng ta sẽ gặp nhau trong tình bạn thắm thiết, dạt dào.
Nguyễn Ngọc Anh
Pleiku, 02-2012