Cứ hôm nào đi chợ mua thức ăn, mẹ tôi thường gọi vói theo: “Nhớ mua rau tập tàng nghe con”. Và tôi cũng thuộc lòng câu ngạn ngữ “Rau tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn”. Rau thì nhiều loại trộn vào nào là rau cải, nào là rau má, rau dền, rau muống và cả lá ớt, lá cà chua non nữa v.v… Chắc chẳng riêng gì mẹ tôi thích vì khi luộc lên ăn hoặc nấu với canh tôm, cái hương vị trong mớ rau tập tàng có sức quyến rũ khướu giác và vị giác hơn bất cứ loại thực phẩm nào, ăn rồi vuốt bụng, nở nụ cười no đủ.

     Rau tập tàng đã đành là vậy, “con tập tàng thì khôn” ý mẹ tôi lý giải là “con nhiều cha thì khôn”. Chẳng biết đúng hay sai, tôi nào dám cải lại mẹ, sự so sánh có thể là qui nạp vì với bà cái gì cũng đúng bởi đó là những điều tổ tiên để lại.
     Người bán rau tập tàng ở phố chợ nơi tôi không ít, nhưng chẳng biết cơ duyên hay lòng trắc ẩn mà tôi chỉ mua duy nhất một nơi, một mớ của một bà cụ. Buổi sáng, chợ chật người đông. Đường vào chợ hẹp dần, méo mó bởi những gánh hàng, sạp hàng chất cao ngồn ngộn cơi nới. Người vào kẻ ra bừng xách, tiếng mời chào, tiếng dao thớt của mấy bà hàng thịt, hàng cá tạo nên bản đại hợp xướng âm thanh hỗn tạp.
     “Bạn hàng” của tôi đây rồi! Chắc thấy tội nghiệp nên mấy ông quản lý chợ luôn để bà được ngồi ngay giữa đường mà không phải chịu đóng thuế chỗ ngồi. Tôi sấn lại ngồi xuống, một tay đỡ vào cái lưng cong xương xẩu của bà, tay cầm lấy rổ rau tập tàng còn đầy nguyên có điều hơi héo vì nắng gió và sức nóng hầm hập bung ra từ sự chuyển động của chợ. Vẫn cái áo bà ba hơi cách điệu bởi cái cổ khoét khá rộng, Bà mặc cũng rộng chắc của ai đó cho, đôi vai và cánh tay bạc thếch không còn màu đen nữa tôi cũng chẳng nhận ra cái quần bà đang mặc màu gì bởi đất bụi lấm lem, đôi dép Thái Lan bết đầy đất đỏ cũ mèm, bà kê làm ghế ngồi để lộ đôi chân trần teo tóp, hai ngón chân cái to bè, cong gộp vào trong, mẹ tôi nói đó là dấu tích di truyền của người Giao Chỉ. Dưới cái nón lá méo xẹo gãy vành sờn gần hết, lộ ra đường chỉ khâu và bẹ măng tre lót giữa đã lên mốc xanh chẳng còn trắng nữa, mới mấy ngày không gặp khuôn mặt bà bạn hàng của tôi hốc hác, đen sạm hơn. Răng rụng hết kéo đôi má nhăn nheo trũng xuống tạo thành hai cái hố sâu hoắc. Bà nhìn tôi, mắt mờ đục, húng hắng ho rồi khẽ nói : Mấy bữa nay không gặp cô, tôi có ý trông! Tôi muốn nói với bà ý gì đó nhưng không nói được bởi cùng lúc nghe tiếng “roạc”, cái nón lá bà đang đội lật bay đi, một túi hàng khá nặng động vào bên vai làm bà té ngã lăn, may tôi kịp đỡ bà dậy và người đàn bà quần bó, áo thu đeo kính đen kia vội vã nhặt đồ mình lên, văng ra một lời chưir thề “Ai cho bà ngồi chỗ này…”. Tôi đứng dậy toan nói lại người đàn bà ấy nhưng bà kéo ngồi xuống, ôn tồn nói :
     - Thôi cô, hơn thua gì! Thôi cô mua đi, bảy ngàn đấy!
     Mọi lần vẫn thế, tôi mở ví đưa bà tờ mười ngàn, cầm tờ tiền trong tay bà cứ vân vê nhìn tôi như cầu khẩn, tôi ái ngại :
     - Sao hở bà?
     - Không có tiền thối lại, vừa ho bà vừa trả lời tôi vậy.
     - Thôi mà, cháu biếu bà đó. Xếp hàng vừa nói tôi vừa đưa tay bố từng nắm mớ rau tập tàng bỏ vào giỏ, để lại cái rổ thưa của bà có nhiều nan tre đã gãy chông chênh giữa đường vô chợ lát đá gồ ghề. Bà nhìn tôi móm mém một nụ cười, dùng hay tay chống vào đầu gối nhọc nhằn đứng dậy.
     Nhiều đêm không ngủ, tôi cứ băn khoăn nghĩ về mẹ mình, mẹ người và cả thân phận mình không gì cũng đã thọ rồi. Lại có những mảnh đời lay lắt tận cùng của cái tuổi như bà bạn bán hàng ấy đáng ra đã được an nhàn hưởng lộc. Dạo này tôi cũng hay đi lại thăm bạn bè, cái bệnh thoái hóa khớp có đi lại hoạt động cũng đỡ nhức mỏi phần nào.

     Không hẹn trước và cũng tình cờ có việc tôi ghé nhà con Thu học cùng lớp trường Pleiku hồi ấy, nó kém tôi một tuổi và chúng tôi thường gọi nhau mày tao cho thân thiện - Là nơi mấp mé ngoại ô mà nhà nó là một khuôn viên sang trọng, vườn hoa, cây cảnh, gạch ốp lát đỏ như thảm trải từ cổng vào nhà. Thu chạy ra đón tôi hớn hở trong bộ đồ nền nã màu xanh da trời có hoa vàng lấm tấm, càng làm nổi bật làn da trắng, khuôn mặt thanh tú và cái miệng khi cười làm cho người ta muốn cười theo. Viên mãn về đời tư, gia đình hạnh phúc là cảm nhận đối với con Thu không chỉ riêng tôi mà mọi người từng gặp. Nhà hai tầng thoáng mát, Thu nắm tay tôi chặt như bắt được của quí lôi sềnh sệch vào phòng khách, tính nó vẫn thế, xởi lởi, nhiệt tình với bạn bè.
     Là bạn học trò đấy mà thực lòng lâu nay nào biết gì về nhau đâu! Ngồi trong phòng khách mát rượi la liệt bàn ghế gỗ quí chạm khắc cầu kỳ, tự nhiên tôi bật ra thành tiếng : “Mày hạnh phúc thật Thu à”. Vừa đẩy ly nước cam có ống hút về phía tôi, vừa ném sang một cái nhìn tìm hiểu, miệng nó mím lại đôi môi nhọn ra, chắc mới được thoa son nên còn đỏ tươi, cái đầu gật gật. Chưa hỏi thêm gì Thu đã giải bày luôn thân phận mình dẫu chỉ là những nét chấm phá đơn điệu, tôi vẫn hiểu bởi nó là bạn học mà!
     Mày ơi! “Đời may hơn khôn”, tao là con của năm cha, không phải bảy mẹ mà là một mẹ. Nó cười đến sặc nước cam vừa uống, chảy cả nước mắt. Tôi trơn mắt há miệng kinh sợ. Con Thu lại cười :
     - Thiệt mà, để tao kể mày nghe.
     - Mẹ tao lấy những năm đời chồng, tuổi thơ tao sống trong cơ cực đói nghèo, nghe nói năm ông cha đều năm ông nát rượu và đều đã “nghẻo” hết, tao cũng chẳng biết rõ tao con ông nào (!?), khổ! Anh chị em cũng có mấy người nhưng mà ly tán cả. Có được cơ ngơi này cũng nhờ trời cho tao tý nhan sắc, vớ được ông chồng tuy có già hơn hai mươi tuổi rưỡi nhưng được cái khá giàu có và ông cũng qui tiên rồi. À! Hôm nay ngày giỗ ông ấy đấy, mày ở lại chơi nhá!
     Tôi thẩn thờ nhìn lên di ảnh người quá cố vừa nghe Thu sôi nổi có, nỉ non có kể về con cái học hành, làm ăn, về bạn bè đây đó, đối nhân xử thế àm miên man liên tưởng: Có phải “con tập tàng đây không ?”
     Nắng chiều đổ bóng xiêng ngang hàng cây cảnh vắt lên hòn non bộ giữa sân nơi có tượng Phật Bà Quan Thế Âm to như người thật trầm tư trước mọi chúng sinh khốn khổ, tượng bàng đá cẩm thạch hắt nắng phản chiếu đường gấp khúc thằng vào phòng khách. Tôi nhìn ra nơi phát ra từ làn sáng trắng ấy. Ôi trời! Tôi ứ lên trong cổ họng. Bà cụ hàng rau của tôi! Vẫn bộ áo quần, đôi dép, cái nón lá có méo mó hơn và cái rổ gần đầy rau trong đó. Bà đi mót rau ngoài ruộng về. Bước thấp, bước cao, rổ rau chắc nặng kéo cái lưng vốn đã còng lại còng thêm của bà tạo đoạn thắt lưng gần như thành một góc vuông vắn. Bà đi qua sân mà không ngửng mặt vào nhà. Hướng đưa bà về là khu nhà kho, nhà bếp. Tôi chưa kịp hỏi, Thu đã nhanh nhảu :
     - Mẹ tao đó mày!
     Tôi cắn môi muốn bật máu. Tim tôi lâu nay vốn rối loạn thần kinh, được dịp làm lồng ngực căng lên muốn vỡ. Không nói gì thêm, lấy cớ nhà có việc, tạm biệt Thu ra về.

     Tôi lững thững tản bộ, cố hít thở thật sâu, trời lặng gió cây hai bên đường vật vã giữa mùa khô cao nguyên chiều về đứng sững, lã ngọn. Tôi cố quên đi chuyện đã rồi! Thật may, còn một tháng nữa mới đến hè vậy mà bỗng dưng khúc nhạc ve sầu, khúc nhạc đồng quê, âm thanh đồng điệu đã dạo lên, chẳng cần nhạc trưởng, những nghệ sĩ ve sầu ấy được thiên nhiên lập trình âm thanh trầm bổng, khúc chiết để dâng hiến cho đời. Rồi những nghệ sĩ ấy sẽ già và bản giao hưởng vĩ đại ấy cũng sẽ héo hắt rồi tắt lịm, tuổi thọ của mùa hè sẽ hết.
     Cứ thế tôi đi về và chạm ngõ nhà mình lúc nào không biết

Nguyễn Thị Ngọc Hương                         
Pleiku - Giữa tháng 3/2012