Phần 3:

     M
âm trái cây cúng đêm giao thừa và dành cho mấy ngày Tết thật phong phú, đẹp mắt với những loại trái: cầu (mãng cầu), vừa (dừa) sung (trái sung), đủ (đu đủ), xài (xoài). Nồi thịt kho nước dừa thêm chục cái hột vịt nổi váng mở vàng ươm. Chiều ba mươi phải gói bánh tét, bánh ú, mấy hủ củ kiệu ngâm dấm trắng tinh điểm thêm mấy trái ớt đỏ…mứt dừa, mức bí, mức gừng nằm trong hộp có nắp đậy bằng nhựa trong, hủ hột dưa màu đỏ nằm đợi chờ, hai cây mai trước cổng nhà đang lác đác nở vài bông hoa vàng rực rỡ.
     Chị làm đúng bổn phận của một người con dâu khéo tay và đảm đang, anh Hai Khoa mấy hôm trước đã làm vệ sinh sạch sẽ từ trong nhà ra đến ngoài sân, anh cũng vừa học thuộc thêm được một bài ca vọng cổ “Chuyện tình Lan và Điệp”, ngày trước anh không mấy thích bài này nên không thèm học, nhưng mùa đông năm nay tự dưng anh nghe trong radio được bài này, sao mà lâm ly bi đát quá, thế là anh “dùi mài kinh sử” suốt một tuần đã thuộc làu làu, chắc chắn với giọng ca mùi của anh, khối người khen hay, chị nghỉ thầm trong bụng “ muốn khen ho hen không được”.
     “Tháng giêng là tháng ăn chơi” nên anh Hai Khoa rộng đường mãi miết rong chơi, anh ôm đàn về tận Tân Châu để trổ tài, anh đi gần mười ngày, mười ngày đó chị được đôi chút thong dong, nhưng lòng chị vẫn luôn buồn khi mà thầy giáo Nam ngày nào cũng như một sự tình cờ…đi ngang qua con đường đất trước nhà chồng, thầy đạp chiếc xe đạp cọc cà cọc cạch, sợi dây sên của chiếc xe đạp khô dầu nhớt kêu lên những tiếng “lít…kít…lít…kít…” theo mỗi vòng quay, chị thấy sao mà chiếc xe đạp của thầy nó giống cuộc đời của chị quá: khô khốc mệt mỏi; buồn rầu phiền nảo. Cũng may mà có bé Ngọc Ngà bên cạnh nên chị cũng được vơi đi ít nhiều nổi sầu thương.
     Anh Hai Khoa về nhà sau những ngày du Xuân, anh vẩn vui tươi sung mãn, có lẽ anh đang rất thích thú vì chuyến du xuân trong tháng giêng của mình. anh đã tận hưỡng trọn vẹn và đầy đủ cuộc sống của một anh chàng tài tử nghiệp dư với tiếng đàn và giọng ca của mình.
     Còn “Vợ” là cái gì nhỉ?...

***


     Sáng nay cha chồng kêu hai người ra nói chuyện, có vẻ rất cương quyết và trọng đại, ông đằng hắng cho thông cổ sau khi uống một ngụm nước trà:
     - Vợ chồng thằng Hai à, ra giêng rồi, mấy bữa nay tía đã suy nghĩ lung lắm rồi, đến lúc tía phải cho vợ chồng bây ra riêng để tính chuyện mần ăn cho thành người, bây giờ hai đứa muốn mần ăn gì, cho tía biết…
     Anh Hai Khoa tròn mắt ngạc nhiên, không biết phải trả lời như thế nào? Không biết mình muốn “mần ăn cái gì”?, nhưng với chị, đây là một dịp may, một cơ hội hiếm có, chị nói ngay cái điều mà chị ấp ủ trong lòng mình từ lâu lắm:
     - Dạ…tía cho vợ chồng con được đi buôn…
     Anh giật mình:
     - Hả? Đi buôn? Buôn gì?
     Chị từ tốn nói:
     - Nếu tía cho phép, vợ chồng con xin được đi buôn trên sông.
     Anh Hai Khoa chưa kịp phản ứng thì cha chồng tỏ ra hài lòng với ý định của chị:
     - Vợ Hai Khoa nói phải đó, thôi…tía tính vậy nè, tía sẽ sắm cho hai vợ chồng bây một cái ghe nhỏ, cho thêm một ít vốn liếng để đi buôn, có đi đây đi đó, có buôn bán với người ta thì mới giỏi được. Lần sau sinh con trai thì về với tía, tía giao hết ruộng nương cho hai vợ chồng bây cai quản, cứ vậy mà làm…
     Anh Hai Khoa lôi vợ ra sau hè, nơi có ao cá to của nhà anh, anh hậm hực nói:
     - Tại sao ấy nói ngang mà không chịu bàn bạc với tui? Bộ… muốn cầm quyền hả? nói cho biết, tui không đi buôn đi bán, đi ghe đi cộ gì hết ráo…ấy có muốn thì tự mà đi.
     Chị năn nỉ:
     - Ông à, con mình nó biết đi rồi, tui tính gởi nhờ ngoại với mấy dì trông coi, đi buôn mau có tiền, phi thương bất phú mà ông, chẵng lẻ ở không miết vậy sao? Vợ chồng mình cũng cần có của nã riêng tư chớ.
     - Vậy chớ đồ cưới đâu mà không có của nả?
     Chị ngập ngừng:
     - Cô ba nó mượn chưa trả.
     Anh bực bội:
     - Sao không đòi, phải đòi lại chớ. Phải chi ấy sinh con trai thì tía giao hết gia tài điền sản cho tui rồi…cũng tại ấy nên chi tui vẫn là thằng tay trắng...
     Chị ứa nước mắt, tại sao anh không chịu hiểu là không do chị mà do ý trời, chị cũng muốn sanh con trai lắm chớ, nhưng khi nói như thế, lòng chị quặn đau và thương đứa con gái của mình nhiều hơn, vì nó ra đời không như sự mong đợi của mọi người trong gia đình. Anh lại cau có hỏi thêm:
     - Sao không xin tía cho một sạp hàng gì đó ở ngoài chợ mà buôn bán, lại đòi đi ghe?
     Chị lấy tay áo quệt nước mắt mà trả lời anh:
     - Quê mình sông nước mênh mông chằng chịt, hai bên bờ cây trái nặng sà cành, mình đi buôn trái cây, cứ lênh đênh trên ghe, mua đằng gốc, bán đằng ngọn mau có lời, mà lại lời to. Ông chịu khó nghe tui.
     Anh ấm ức:
     - Tui nói thiệt…ấy làm khó cho tui, ấy cũng biết là tui có bạn bè đờn ca tài tử, phải đi ghe là phải xa họ…
     Đó là điều mà chị mong muốn, vì muốn anh xa bạn đờn ca tài tử, vì muốn anh lo chí thú làm ăn nên chị đành chọn nghề buôn trên sông nước, lấy ghe làm nhà…nhưng chị lại không nghỉ ra một điều: anh là đàn ông, anh có niềm đam mê lớn, bức anh ra khỏi nó là giống như chị đã bức đi một phần thân thể anh mà quẳng xuống sông.
     Với áp lực của cha, với sự năn nỉ của vợ, và những lần cải nhau, cuối cùng anh hai Khoa đồng ý với cuộc sống mới. Sau đám cưới của cô Ba, chị bồng bé Ngọc Ngà qua gởi má. Nước mắt của chị rơi ước đẩm mái tóc mềm như nhung của con gái, chị đưa con cho má, quay về nhà với một trái tim bị chia đôi. Lại thấy thầy giáo đứng bên kia cây cầu khỉ nhìn chị buồn rười rượi…cây cầu khỉ ơi…
     Trước ngày lên ghe, má chị đưa qua cho chị những đồ dùng mà người nội trợ nào cũng phải có, đó là son nồi chén bát đũa muỗng ly tách…chị hỏi cô em chồng về món nữ trang mà cô ấy mượn, nhưng cô ta nói một cách ngang ngược đầy tử tế:
     - Chị đi ghe mang theo làm gì, để tui giử dùm cho, chừng con Ngọc Ngà lớn thì tui đưa lại.
     Cầm bằng là mất trắng món nữ trang ngày cưới.

***


     Anh Hai Khoa vẫn là người đàn ông gia trưởng, anh quyết định hết mọi việc mua bán trên sông, tiền bạc anh nắm giử. Nhưng một người chỉ biết và thích đờn ca tài tử như anh thì chuyện bán buôn tính toán không làm sao sinh lợi được, tuy nhiên để khẵng định mình là người chủ của gia đình, người chuyên ra lịnh, với tính cách đầy gia trưỡng nên anh không để cho vợ có ý kiến trong việc mua như thế nào và bán ra sao?.
     Chuyến đầu tiên anh dong ghe về Vĩnh Long mua thơm, anh cũng chịu khó lặn lội vô tuốt trong sâu để gọi là mua “đằng ngọn”, thấy những trái thơm vừa chín tới có màu vàng óng hấp dẫn lại bán giá cũng khá rẻ, anh mua ngay không thèm suy tính hay nghe lời khuyên của vợ – là một người đàn bà vén khéo lo xa - bởi vì với sự “chín tới” của đống thơm này nếu không kịp bán hết thì thế nào cũng bị hư, bị úng. Khi mớ Thơm được chất lên ghe rồi, anh chèo xuôi về Long Xuyên nhưng không gặp khách đành quay lại dong ghe đi tìm mối.
     Mối mua thì có đấy nhưng họ trả giá không như ý anh muốn nên anh không bán, chị nóng ruột nhìn những trái thơm nằm trên ghe đang chín rục từ từ nên hối thúc anh bán cho xong để thu hồi vốn mà còn đi chuyến khác, nhưng không ngờ anh đã nổi cơn thịnh nộ, ước chừng từ đầu mủi lái anh nhảy ra sau mủi chèo để đánh chị. Anh biện giải rằng:
     - Đã mua tận gốc thì phải bán tận ngọn, phải có lời nhiều thì mới không bỏ công đi buôn…
     Chị khóc rấm rứt:
     - Mình mua hàng trái cây chứ đâu phải hàng khô, lở như mà nó hư thúi hết thì có mà cụt vốn.
     Anh lớn tiếng la át lại chị:
     - Ai biểu ấy cứ đòi đi buôn…tui đã không muốn mà ấy cứ cải lời tui…
     Thì ra anh vẩn còn hậm hực vì chuyện chị muốn đi buôn trên sông nước này, và anh đã dồn tất cả sự tức tối lên đầu chị bằng hành động cố tình như muốn làm khó chị trăm bề.
     Cuối cùng là phải bán đổ bán tháo đống thơm ấy, có những trái phải quăng xuống sông vì quá nát, trái thì chỉ cứu được phân nửa, chị vừa gọt từng trái để bán lẽ, vừa chảy nước mắt xót xa vì tiếc của. Chuyến đi buôn đầu tiên ấy anh chị lỗ mất hơn phân nữa số vốn.
     “Nhất định không bỏ cuộc”, chị nghỉ như vậy và chèo ghe về lại “bến xưa” đòi cô em chồng trả lại số vàng cưới để làm vốn đi buôn tiếp, nhưng cô ta nói:
     - Tui lỡ đi cầm cho người ta rồi, chừng nào chuộc lại tui trả cho.
     Đành vậy; khi người ta chưa muốn trả.
     Nghe lời chỉ bày của bạn ghe cũng đi buôn hàng trên sông, anh chị đưa ghe về tận Cà Mau mua than đước để đưa lên bến Hàm Tử bán cho tiệm than của người ba tàu. Cảnh trời mới với đất mới đã mở lớn tầm nhìn làm phong phú thêm sự hiểu biết của chị, chưa bao giờ chị cảm thấy lòng mình mênh mông đến như vậy. Cuộc sống “tang bồng” lênh đênh trên sông nước mặc dù có nhiều điều thú vị vì được đi đây đi đó nhưng cũng rất nhiều lần chị ray rức chạnh lòng vì thương nhớ bé Ngọc Ngà, và nhớ luôn cây cầu khỉ mà nơi đó như rằng có bóng dáng của một người…
     Vào vựa than của Cà Mau mới thấy ngút ngàn những đống than vun cao. Anh chị mua chất đầy một ghe, tuy nhiên lần đầu tiên buôn than nên chưa có mấy kinh nghiệm vã lại anh không bao giờ cho chị được cái quyền trả giá hay chọn lựa. Anh chị đưa than lên tận Sài Gòn, đậu ở bến sông Hàm Tử rồi anh đi chào hàng, còn chị ở lại trông chừng ghe than.
     Hầu hết mấy chủ tiệm bán than ở bến Hàm Tử là người Hoa, khi anh hai Khoa đưa rổ than tới chào hàng, họ lắc đầu chê than xấu, suốt một buổi sáng anh đi từ tiệm này đến tiệm khác nhưng đều nghe câu từ chối hoặc bị trả giá rẽ so với giá anh mua ở vựa, mỏi mệt lẩn chán nãn, anh quay trở về ghe và trút hết mọi bực tức lên đầu chị, hai Khoa đay nghiến vợ bằng những lời đầy cay đắng. Chị nhận lãnh tất cã sự giận dữ của chồng bằng cách im lặng và bằng những giọt nước mắt rơi lã tả trên má, còn anh hai Khoa chừng như đã trút được gánh bực tức trong người, anh xách chai rượu ra phía đầu mủi ghe đằng trước vừa uống vừa ca một bài vọng cổ, nhưng chỉ được nữa chừng thì anh ngưng bởi giọng anh khàn đục vì nảy giờ la hét vợ, anh cúi đầu nhìn xuống mặt nước sông của bến Hàm Tử, hình như nó cũng đục ngầu như số phận của vợ chống anh, nước mắt anh ứa ra, anh lặng lẽ khóc, không cho chị biết, đưa chai rượu lên miệng anh ngữa cổ tu một ngụm… rượu làm cay xé cổ của anh…
     Thấy người đàn bà ngồi sau mũi ghe khóc nức nở, một ông chủ tiệm than gần đó đi tới hỏi thăm; thì ra đó là ông chủ tiệm đầu tiên hai Khoa đến chào hàng, chị than thở:
     -Tụi cháu mới đi buôn lần đầu nên không biết than xấu tốt thế nào, người ta đưa lên ghe than nào thì tụi cháu lấy than đó, ai nào ngờ…
     Ông chủ tiệm có vẻ là người tốt bụng, nghe chị kể thì tỏ ý thương cảm, ông nói giọng lơ lớ:
     -Thôi, pây chừ ngộ mua dùm cho nị, nhưng lể ngộ chỉ cho nị cách mua than tốt, lày xem ngộ chỉ cho mà piết phân piệt hai thứ than lây nè…
     Chị mừng rở, không còn nhớ đến những lời xỉ vã của anh dội lên đầu mình ban nảy, chị rối rít kêu anh đến nghe. Thì ra than anh chị lấy ở vựa là than bọng, nó nhẹ ký nên thấy có vẻ nhiều nhưng khi đỏ lửa thì nó nổ tung tóe và mau tàn, khi tàn rồi thì không thể um lại mà để dành cho lần sau, khách hàng không thích loại than này, giá của nó lại rẽ…
     Những chuyến ghe buôn than lần sau anh chị có lời nhiều, và ông chủ tiệm là bạn hàng thân thiết, ông là người Hoa nhưng cũng ưa xuống ghe ngồi nhâm nhi miếng mồi chị làm và uống đôi ba chung rượu để nghe anh hai Khoa đàn mấy câu vọng cổ, anh lại ngân nga cất giọng với bài “tình anh bán chiếu”, vài người bạn ghe lân cận lắng tai nghe và khen anh quá chừng, điều này anh ủi anh thật nhiều, nó làm cho anh rất vui.

***


     Dù chị muốn và cố tình chọn lựa cách sinh nhai nhưng chị không thể nào ngăn anh thôi cầm đến cây đàn phím lỏm. Mỗi khi anh ngồi so dây đàn và cất tiếng ca, chị lại nhớ con mình đến da diết. Giữa trời đất sông nước mênh mông dạt dào, giọng ca cùng với tiếng đàn của anh từ từ lôi cuốn rất nhiều người cũng buôn bán trên ghe. Một điều chị không ngờ đến là với chiếc ghe buôn hàng trên sông nước nay đây mai đó anh lại có nhiều bạn đờn ca tài tử mới, còn nhiều hơn lúc anh ở trong ruộng.
     Đúng là sông nước mênh mông, ghe thuyền tấp nập. Mới sáng sớm mà đã xôn xao người mua kẻ bán, thứ gì cũng có. Con sông như một cánh đồng mênh mông nhưng có lắm người ở, ghe thuyền là nhà, là chợ, là quán xá, một cái chợ nổi thật vui mắt. Anh hai Khoa có dịp trổ tài giữa chốn đông người trên sông chứ không liu hiu như lúc ở nhà mình. anh vui lắm còn chị thì chịu khổ cực nhiều hơn. Ra đi từ quê nhà mình là xứ Chợ Mới ở Thanh Bình, Đồng tháp, anh chị lênh đênh trên chiếc ghe buôn qua Vĩnh Long, Cần Thơ, Tân Châu, Hồng Ngự…rồi về tận Cà Mau sau đó rong ruỗi lên Sài Gòn đậu ở bến Hàm Tử…nhưng dù đi đến đâu, ở những nơi xa chốn lạ nào thì lòng chị luôn nhớ về đứa con gái và đôi khi vì cực quá, chị lại chạnh buồn mà nhớ đến một người đã nói với chị: “ tên chi mà khổ quá”…câu này vẫn chị nhớ mãi trong lòng.
     Anh đã thích thú với cuộc sống lênh đênh trên dòng sông này, giọng ca và tiếng đàn của anh nức tiếng suốt chiều dài của con sông lớn, anh bớt cáu gắt với chị và cũng khônng dành hết mọi quyền hành, hình như anh cảm thấy mình nhẹ gánh lo khi giao phó hết cho chị để tập trung vào chuyện đờn ca tài tử. Buổi trưa sau mỗỉ chuyến giao than rồi lấy những mặt hàng khác từ trên bến HàmTử chất đầy ghe để đưa về chợ quê bán lại, anh thường cho ghe chạy về để đậu vào một bến sông quen thuộc, dưới bóng hàng tre xanh mượt mà, anh lội xuống sông tắm rữa sạch sẽ xong rồi ôm cây đàn phím lỏm ra ngồi trước mủi ghe so dây và ca bài “tình anh bán chiếu”, một lúc sau trên ghe anh chật cứng, có mấy người phải qua ngồi bên ghe bạn mà nghe anh ca; chị lúi húi sau mủi ghe làm đồ nhậu để anh thết đãi bạn bè. Phải chi chị biết nhiều chữ nghĩa, chị sẽ làm một bài vọng cổ có tựa là “tình anh thầy giáo” và chỉ để một mình chị ca, vì chị rất buồn và nhớ, ai cấm được lòng người ta đừng nhớ nhung khi mà sống bên…“ái ân hờ hững của chồng tôi” kia chứ…
     Không bao giờ chị được đi ngủ sớm và giấc ngủ của chị không lúc nào được đầy đủ, vì vậy da chị xanh xao vàng vọt, má chị cóp lại và hai con mắt lúc nào cũng thâm quầng vì thiếu ngủ. Còn anh hai Khoa, đêm anh thức nhiều để ngân nga giọng ca và luyến láy ngón đàn cho bạn ghe thưởng thức bên mâm đồ nhắm ngon miệng; với chai rượu cay lúc nào cũng được đong đầy nên anh ngủ rất khuya, nhưng bù vào đó là anh dậy rất trễ và khi anh dậy thì chị cũng đã dong ghe đến nơi khác để mua và bán suốt nữa phiên chợ sáng. Chị biết mình khổ vì ông thư ký già đã sơ ý đánh dấu “hỏi” thay vì dấu “sắc” vào tên của mình. Đêm đêm chị ứa nước mắt nhớ lại lời thầy giáo Nam: “tên nghe sao mà khổ quá”… Ải ơi…Thầy giáo Nam ơi…
     Chị có bầu, không như lần ốm nghén đứa con đầu còn được nghỉ ngơi đôi chút, bây giờ lênh đênh trên sông nước, anh không có em gái để sai nhờ nên chị phải ôm đồm hết, luôn cả việc làm đồ nhậu để anh tiếp bạn, chị cũng cáng đáng. Có những đêm khuya gió sông thổi lên lồng lộng, chị ngồi sau mủi ghe, lòng buồn rười rượi, không một chút xúc động khi anh vừa đàn vừa ca rất nảo nuột bài “chuyện tình Lan và Điệp”.
     Chiều nay anh chị ghé về thăm nhà, chị bương bương qua nhà mẹ ruột để thăm con gái Ngọc Ngà của chị, trong khi anh đang bận vui tiếp bạn bè. Cây cầu khỉ năm xưa khi chị đi lấy chồng nay đã già yếu lắc lẻo đong đưa theo mỗi bước chân của chị.
     Cả nhà cha má và các em mừng rỡ khi vừa thấy bóng dáng chị từ bên kia cây cầu khỉ, má chị dắt tay bé Ngọc Ngà ra bên này cầu đứng đón chị, chưa kịp ôm con vào lòng mà chị đã khóc rồi, bé Ngà lớn và xinh đẹp quá chừng. Cha má hỏi chị về những ngày tháng đi buôn trên ghe…kể thì kể vậy thôi chứ làm sao cha má hiểu được tường tận phía sau của những điều chị nói, chị chỉ kể về phần nổi trên mặt, nhưng chị dấu kín phần phìm sâu dưới đáy tâm hồn. Có nói ra thì chỉ làm buồn cho cha má thêm chớ chẳng ích gì, bây giờ chị đã như “ván đã đóng thuyền” rồi…Thuyền chưa mục nát nên đinh còn dính cứng, ván thuyền khó mà gở cho ra.
     Thầy giáo Nam đứng bên kia cây cầu khỉ, trong một bụi tre khuất, nơi mà ngày ấy chị lên xe lam về nhà chồng; anh cũng đã đứng đó nhìn theo mà lòng đau đớn cho mãi tận bây giờ. Em gái chị nói:
     - Thầy giáo vẫn chưa chịu lấy vợ, hình như thầy có thương ai đó mà người ta đi lấy chồng rồi, thầy buồn quá nên ở vậy luôn.
     Chị cười mà như mếu:
     - Chung tình chi cho khổ vậy? Ai đó đã lấy chồng thì thầy cũng lấy vợ cho xong.
     Em chị xí một cái dài:
     - Nói như chị thì làm gì có chuyện tiểu thuyết tình cảm đặng người ta đọc. Em ngưỡng mộ tấm chân tình của thầy giáo lắm nghen chị, đời bây giờ đâu phải ai cũng chung tình như vậy.
     Chị ở chơi với con chỉ được hai ngày, hai ngày ấy chị luôn thấy thầy giáo Nam bên kia cây cầu khỉ, hai người chỉ thoáng nhìn nhau một cái rồi thôi, thầy đi về còn chị thì quay vào nhà, đêm khuya cứ thao thức ngậm ngùi thương cho mình và người ấy có chung một mối tình câm nín.
     Sáng nay chị phải trở xuống ghe để tiếp tục cuộc “hành trình” mua bán trên sông, chị cố ý đi ngang hông trường cũ nơi thầy Nam dạy học, còn thầy làm như là một sự tình cờ ra đứng bên cổng trường, khi đi ngang qua đó bước chân của chị hơi chậm lại, thầy chào hỏi:
     - Ải có khỏe không?
     Chị ngượng ngùng lấy chiếc nón lá úp vào bụng mình như cố che dấu, nhưng thầy đã kịp thấy cái bụng của chị hơi lùm lùm, tim thầy Nam thắc lại một cái đau nhói:
     - Ải hạnh phúc lắm phải không? Tôi mừng cho em.
     Giọng nói của thầy rất ngậm ngùi, chị nghẹn ngào trả lời thầy bằng một cái lắc đầu mà hai hàng nước mắt rơi lã chã. Chị đi nhanh về phía nhà chồng, nơi đó có ghe buôn và người chồng của chị đang ôm đàn ca bài “tình anh bán chiếu”… đậu chờ. Thầy giáo trở vào lớp, bần thần không dạy thêm được gì cho học trò.

***


     Càng ngày người ta càng được tiếp cận với nền văn minh kỷ thuật mới, các hàng quán cà phê từ ngoài đường cho tới trong chợ cũng cố mua và gắn một cái tivi để cho khách vừa xem vừa uống cà phê, một ly cà phê đá chỉ có bốn ngàn, lại được xem tivi thoải mái, nhất là những khi có bóng đá thì quán chật cứng. Đàn ca tài tử của anh Hai Khoa bị “ế”, anh rất buồn, nhất là khi giọng ca của anh không còn được truyền cảm như xưa.
     Lần này chị sanh con trai. Cha chồng mừng, chồng mừng, chị mừng, ai cũng mừng…nhưng…không có chuyện cha chồng giao lại gia tài điền sãn cho hai vợ chồng anh hai Khoa như hồi đó ông từng nói, lý do là hồi đầu năm nay ông đã giá nghĩa với một bà góa ở xóm trên, bà này có hai đứa con riêng với chồng cũ, bà đã khăn gói quả mướp theo về làm vợ ông. Cha chồng chị lờ đi, không đề cập đến chuyện kêu anh chị về nữa.
     Nếu phải sống lênh đênh trên sông nước mãi thì chị phải gởi đứa con trai nhỏ nhờ má trông coi như chị đã gởi bé Ngọc Ngà. Lần này chị không thể, không nở và không muốn rời xa hai đứa con của mình. với lại thâm tâm chị cũng không muốn lòng mình bị lao đao mỗi khi thấy thầy giáo Nam. Chị bàn với anh bán chiếc ghe đi, lên Sài Gòn mua một căn nhà nhỏ để ở, anh hỏi:
     - Tại sao phải lên tận Sài Gòn mua nhà? rồi làm gì để sống? Nhà Sài Gòn mắc lắm đó.
     - Tui nghỉ kỷ rồi, Sài Gòn là đất văn minh, sau này con mình lớn lên nó cũng được văn minh. Mấy lần mình đưa hàng lên đó bán, tui thấy người Sài Gòn đẹp quá…
     Anh lườm chị một cái:
     - Xì, mình là dân quê thì cứ sống ở quê cho yên phận, đèo bòng chi cái văn minh của người ta.
     - Ông à, đời tui với ông coi như xong, còn đời con của mình, phải cho con mình nó khác đi…
     Anh xuôi lòng nghe theo chị; đúng là phải nghỉ đến tương lai của con cái, phải cho chúng nó văn minh, đời ông bà cha má ở ruộng thì đời con cháu phải được ở thành thị…
     Chiếc ghe bán được cũng nhiều tiền, anh chị lên Sài Gòn, len lỏi đi tìm mua nhà, cũng may là có căn nhà nhỏ ở mặt tiền đường cũng nhỏ bán với giá hơi rẻ, anh chị mua ngay, còn dư chút đỉnh chị bày ra bán gạo. Chị quan niệm rằng bất cứ người nào dù thật giàu hay thật nghèo cũng cần phải ăn, mà gạo là thực phẩm chính để nuôi sống con người ta, bán gạo chắc chắn là không sợ bị đói.
     Chị đón bé Ngọc Ngà, bồng bé Anh Tuấn, dẩn theo đứa em gái thứ năm lên ở cùng để đở đần giúp chị. Lần này thì chị nhất quyết đòi lại số vàng cưới mà cô ba đã mượn, nhưng cô cũng nhất định không chịu trả. Chị nghỉ sẽ không bao giờ đòi được một khi người ta không muốn trả. Lần này thì đúng là “của đi thay người”, chị thở dài tự an ủi mình.
     Chị lấy mặt tiền nhà bày bán gạo lẻ, nhờ sự khôn khéo và cần kiệm của chị dần dần nó trở thành một tiệm gạo khá lớn, phía ngoài hiên kê được một cái bàn nhỏ và hai cái ghế, anh hai Khoa làm thêm cái gác cho rộng, mọi người ngủ trên đó, nhà dưới chỉ để nấu ăn và bán gạo.
     Anh mau chán, anh không thích cứ loanh quanh luẫn quẫn trong nhà với những bao gạo chất cao, thỉnh thoảng anh đem cây đàn phím lõm ra so dây, gảy vài tiếng, nhưng chừng như không có hứng nên anh máng lại trên tường. Chị thấy anh có vẻ buồn buồn dù bây giờ anh chị có thêm hai đứa con: một trai, một gái, bây giờ gái hay trai không còn quan trọng với anh chị nữa, con nào cũng là con.
     Chị bận rộn với việc mua bán nên anh cũng không đòi chị làm đồ nhậu để đải bạn, thường thì khi đến chơi bạn anh đều mang theo mồi, anh chỉ lo rượu mà thôi, người Sài Gòn thích nói chuyện thời sự, đối với anh thì nói chuyện thời sự không hấp dẫn như khi anh ngồi ôm cây đàn và ca một bài vọng cổ, nhưng anh cũng phải có đôi lời bàn ra tán vào với họ để tỏ ra mình cũng là người am hiểu thế sự, lâu dần đâm quen.
     Anh hai Khoa đang có sự thay đổi trong suy nghỉ, anh không cam lòng làm ông chủ tiệm gạo đi ra đi vào với những cân đo đong đếm, anh muốn làm một cái gì đó lớn lao hơn, mạo hiểm hơn, nhiều tiền hơn.
     Một buổi tối anh ngồi bên bình trà bàn với chị:
     - Má con Ngà này, tui giao hết tiệm gạo cho bà lo, còn tui đi làm chuyện khác.
     Chị ngạc nhiên hỏi:
     - Vậy chớ ba thằng Tuấn tính đi làm chuyện gì?
     - Có người bạn rủ tui đi mở đồn điền trồng cà Phê, mau khá lắm…
     - Tiệm gạo cũng dư sức cho mình giàu rồi, bay nhảy mà làm chi.
     Anh cương quyết:
     - Tui suy nghỉ kỷ lắm rồi, thì tui cũng chỉ đi đi về về, chủ yếu là mình bỏ tiền ra mướn nhân công, má con Ngà đừng ý kiến ý cò gì hết, tui nói là tui làm.
     Chị phải gom tiền bạc đưa cho anh một số vốn lớn để anh đi khẩn đất trồng cà phê, lúc này anh ưa chưng diện nên nhìn anh khá đẹp trai, với cặp kiếng trắng mang trên mắt nó làm cho anh thật trí thức, áo sơ mi phẵng phiu lúc nào cũng bỏ trong quần, một chiếc quần tây thẳng nếp, đôi giày da màu đen bóng lộn, tay anh xách một chiếc cặp loại dành cho thương gia, xức nước hoa thơm phức…anh không còn là hai Khoa của ruộng đồng, của “tình anh bán chiếu” nữa, mà y như là một “đại gia”.
     Chị linh cảm có điều gì đó không vui sắp đến với gia đình chị, một điều tuy là đang còn mơ hồ nhưng ngày càng lớn dần làm chị ngộp thở, chị thường xuyên lo sợ cho điều gì đó sẽ xảy ra.
     Không thấy anh nói gì về rẫy cà phê như khi anh lấy tiền ra đi, hình như tiền đã hết mà rẫy cà phê vẫn còn trên bàn nhậu?. Thời gian này anh lại ở nhà thường hơn, cứ đi ra đi vào, thở ngắn than dài bồn chồn bức rức, chị có hỏi thì anh chỉ ậm ừ.
     Hôm nay anh mời mấy người bạn đến nhà chơi, anh muốn đích thân chị phải làm vài món nhậu để đải “khách quý”, chị đi nhanh ra chợ mà lòng cứ miên man suy nghỉ, linh cảm về một “điều gì đó” của chị hình như đang đến trong nhà chị, đi chợ mà lòng chị không yên.
     Trong men rượu ngà ngà say, anh nâng ly rượu lên và tuyên bố giữa bàn tiệc nhậu một rất hùng hồn:
     - Là đàn ông thì phải có mê một món gì đó mới đúng là đàn ông, đàn ông mà không biết mê gì hết thì…không phải là đàn ông…ngày đó tôi mê đàn ca tài tử, bây giờ không còn mê nó nữa, tôi chuyển qua mê đàn bà…dô một ly nữa coi…
     Có tiếng một ông nói hùa theo:
     - Ha ha…đàn nào mà chẳng là đàn…hô…hô…
     Tiếng của anh to nhất:
     - Ừa, thì trước kia tui mê “đàn ca”, bây giờ thì tui mê “đàn bà”…đàn nào cũng…sướng cả…dô cái coi…
     Đây là chủ ý của hai Khoa, anh muốn mượn bàn tiệc nhậu này, bên những người bạn thành phố để nói với chị điều quan trọng mới mẻ của anh. Anh muốn “trình làng” với chị về sự thay đổi trong con tim anh…bởi vì thà cho chị biết trước hơn là cứ phải dấu dấu diếm diếm chi cho mất công mà mệt trí.
     Mê đàn ca…chị khổ về thân xác, mê đàn bà…chị khổ cả hai thứ. Mê đàn bà…có nghĩa là anh đang đưa về nhà một quả bom tấn, nó sẽ làm nổ tung ngôi nhà của chị, nó sẽ cuốn trôi tất cả những gì chị đã gầy dựng được, hèn chi số vốn chị gom hết để đưa cho anh, nó đi lung tung không hẹn ngày trở lại.
     Chị không sao nuốt nổi miếng cơm, mà chén cơm thì đong đầy nước mắt của chị, nhớ ngày xưa má thường hát ru các em chị rằng:
               “ Gánh khổ đem đỗ lên non,
               “ Cong lưng mà chạy, khổ còn chạy theo”
     Chị khóc thầm:-“ Tía ơi, tại sao tía đặt cho con cái tên gì mà khổ quá vậy tía?”. Tên của chị có từ lúc chị mới lọt lòng, nó đã vận vào người chị, nó đeo theo cuộc đời của chị như một cục thịt dư ở đâu đó mà không chịu nằm yên một chổ, nó cứ ưa chạy lung tung.

***


     Chồng chị ra mặt mê “đàn bà” thay cho “đàn ca”, người đàn bà mà hai Khoa mê mẫn thật tình thì nhan sắc không có gì là đặc biệt ngoại trừ cô ta biết cách uốn éo, run rẩy và rên lên những tiếng kêu luyến láy với anh, giống như mỗi lần anh đem cây đàn phím lỏm ra để so dây. Điều đó làm cho lòng hai Khoa rung động, làm cho tự ái của người đàn ông nơi hai Khoa được vổ về xoa bóp…
     …Mộng Tuyền là tên của người đàn bà ấy, mới chỉ nghe qua cái tên thôi là đã thấy lòng bồi hồi xao xuyến muốn nhớ nhung rồi. Đó là một phụ nử lở thì không phải vì xấu xí nhưng là vì ưa kén chọn. Trời phú cho Mộng Tuyền có một giọng ca có thể gọi là nức nở làm cho đàn ông phải nao lòng. Tuyền không thích bương chải chạy chợ, cũng không chịu cuộc sống phải làm lụng bằng tay chân, Tuyền sợ nắng sẽ làm cho cô sạm da mặt, Tuyền cũng sợ mấy công việc nặng nhọc làm nỗi lên những sợi gân tay, nói chung Mộng Tuyền là người thích chải chuốt son phấn và chỉ đi ra đường khi chiều xuống; khi mặt trời không còn chút nắng.
     Thà rằng lỡ thì chớ không thà phải lấy một ông chồng nào đó, mà không may trở nên nghèo khó, phải vất vả cực khổ rồi sanh một bầy con, rồi lủ khà lủ khủ thì chán lắm. Đó là tư tưởng của Mộng Tuyền, vì tư tưởng ấy mà Mộng Tuyền quen biết lén lút với nhiều người đàn ông có vợ, nhưng…người ta đâu thể bỏ bê vợ con gia đình mãi được; chơi chán rồi cũng đến lúc phải dừng chân, cho nên Mộng Tuyền vẫn còn độc thân cho tới khi gặp anh hai Khoa; một người đàn ông chỉ biết mê đờn ca tài tử chớ chưa đi sâu để biết được mùi vị chơi bời ở cái đất Sài Gòn này cho thật đúng nghĩa.
     Hai Khoa biết đến Mộng Tuyền là do anh quen thêm một người bạn mới - khi mà anh lấy thêm tiền và nói với chị là phải đi làm ăn lớn - người bạn mới này rất thích ca vọng cổ, thế là anh có dịp trổ tài. Rồi trong một lần cùng nhau hội họp đàn ca vui chơi ở một quán cà phê mới khai trương, anh hai Khoa vừa đàn vừa ca – cũng vẩn là bài “tình anh bán chiếu” – thì anh “đụng độ” với Mộng Tuyền. Đó là khi có người trong nhóm yêu cầu anh đàn cho một người đẹp có “giọng ca vọng cổ ngọt như mía” lên ca, hai Khoa ngạc nhiên và vui lắm, anh so lại mấy sợi dây đàn để làm dáng, Mộng Tuyền tươi cười đến đứng bên cạnh anh, cô nhão giọng ca một bài trích trong vở cải lương “Đời cô Lựu”, thế là họ trở thành một đôi “đàn ca tài tử” đúng nghĩa, ca liên tục nhiều bài. Đến khi chủ quán chuẩn bị đóng cửa vì “đã quá khuya rồi”; anh Khoa vội vàng xin địa chỉ của Tuyền, trước khi chia tay tan hàng, anh hẹn sẽ “ sớm có ngày gặp lại”.
     Sau đêm “đàn ca tài tử” thật đúng với tên gọi của nó, anh hai Khoa về nhà mà lòng cứ vấn vương tơ tưởng đến Mộng Tuyền. Đêm dài quá, và chừng như không thể chờ đợi được lâu hơn, vừa mới sáng sớm anh đã thay đồ, leo lên chiếc xe Vespa đi tìm địa chỉ của nhà cô Mộng Tuyền trước sự ngỡ ngàng lẫn ngạc nhiên của vợ vì anh không nói với chị rằng anh đi đâu.
     Nhà của cô Mộng Tuyền ở quận tư, trong mấy con hẻm loằn ngoằn nên cũng khó tìm, mãi đến khi anh mệt toát mồ hôi thì mới tìm được, cô Tuyền đang ở với vợ chồng người anh thứ ba, chị dâu của cô không mấy ưa cô em chồng lười biếng đỏng đảnh lúc nào cũng làm như mình là tiểu thư, bà chị dâu này đang rất muốn tống khứ cô Tuyền ra khỏi nhà cho rảnh nợ…đã mấy lần tưởng đâu cô này có người rước; ai dè đi cho đã rồi cũng quay đầu về. Thấy có người đàn ông trung niên ăn bận chỉnh tề, tóc tai chải chuốt láng o; đang đứng lớ ngớ dòm lên bãng số nhà, bà chị dâu nghỉ ngay đến một “con nhạn…đực” sắp sữa sa bẩy cô em chồng….
     Khi cô Mộng Tuyển bước ra với dáng đi theo kiểu “uốn mình xà” cô Mộng Tuyền tới ngồi bên cạnh anh và ỏng ẹo hỏi:
     - Anh kiếm em chi mà sớm vậy?
     Anh bối rối một chút nhưng rồi bạo dạn nói ngay:
     - Bị…đêm về nhớ Tuyền quá ngủ không được.
     Kể từ ngày đó cô Mộng Tuyền trở thành người tình của hai Khoa, cô được anh hai Khoa bao bọc từ A đến Z, đúng như ý cô muốn là “không động tay động chân” mà vẫn được “ăn ngon mặc đẹp”, được chìu chuộng nâng niu hết mực, còn Hai Khoa thì càng ngày càng mê say đắm đuối Mộng Tuyền. Một bữa sau khi hai người quấn quýt với nhau xong, Mộng Tuyền hỏi:
     - Vợ anh có biết chuyện tụi mình không vậy?
     - Làm sao mà biết được.
     Tuyền nũng nịu:
     - Em sợ lắm, chúng mình cứ lén lén lút lút thế này, lở chị ấy mà biết rồi tạt ác xít vô mặt em thì sao?
     Anh hai Khoa cười lớn cho người tình yên tâm:
     - Bả hiền lắm, không dám làm gì em đâu.
     Mộng Tuyền lại ỏng ẹo:
     - Anh hai nè, anh…thấy em như thế nào?
     - Em thật tuyệt vời.
     Tuyền hỏi thêm:
     - Anh phải nói cụ thể kìa, vợ anh và em, ai hơn ai?
     Anh hai Khoa trả lời theo một kiểu trần tục và hết sức phũ phàng:
     - Vợ anh như một khúc củi mục…đốt hoài không cháy, còn em là cây thông đầy nhựa, chỉ cần chút lửa là em cháy phừng phừng…
     Hai người cười khoái chí và…họ lại ngã ngớn đốt cháy nhau…phừng phừng. Anh hai Khoa mê người tình đến nỗi nghe theo lời Mộng Tuyền mà anh đưa cô ta về giới thiệu với vợ mình…

***


     Số tiền chị chắc chiu dành dụm từ tiệm gạo, lần lượt từng đợt một anh hai Khoa lấy hết, lần nào lấy tiền anh cũng nói là để đi “làm ăn lớn” cho phỉ chí nam nhi. Thật ra thì anh nghe theo lời anh trai của người tình; lên Phước Long phá đất rừng trồng cây cao su, vốn đổ vô rẫy chỉ có một, đổ vô người tình nhiều đến hai. Chồng chị miệt mài với những chuyến đi xa luôn có người tình bên cạnh, còn chị ở nhà chênh vênh với tiệm gạo gần cụt hết vốn liếng để nuôi một bầy con bây giờ đã là sáu đứa. Nhiều người xúi chị đi đánh ghen, ngay chính cô em chồng thứ ba, cũng xúi giục chị:
     - Chị phải đánh con kia một trận cho nó chừa cái thói cướp chồng người khác, tui xung phong đi đánh ghen với chị.
     Chị cười buồn:
     - Thôi cô à, bởi tại chồng tui rù quyến người ta…
     Cô ba trợn mắt:
     - Đâu có được, chị hiền quá sức…bộ máu chị màu trắng ha? Nếu cái con đó nó không lẵng lơ ỏng ẹo, bẹo mắt bẹo má anh hai thì làm sao mà anh hai ăn ở với nó được chớ? Lửa gần rơm hoài không cháy sao được chị…nếu là tui thì tui làm cho nó biết tay.
     Chị ngó mông ra tận đâu đâu nên không trả lời, không ai biết lòng chị đang như thế nào, đang nguội lạnh ra sao. Chị không còn chút lửa nóng nào để dành cho chồng, nó đã trở thành tro lạnh từ lâu rồi. và cũng từ rất lâu, khi chưa về làm vợ anh, chị cũng đã có một ngọn lửa trong lòng, nó luôn âm ỉ đốt cháy trái tim chị để gởi về cho một người… dù chị có đi đến nơi đâu thì ngọn lửa ấy cũng đi theo chị đến đó…
     Trong lòng mỗi người thì ai cũng có một ngọn lửa để dành mà sưởi ấm cho ai đó, bây giờ thì chị cũng không muốn trách anh hai Khoa nếu như ngọn lửa của anh lại đem đi thiêu rụi người khác mà không đốt cháy được lòng chị, bởi vì trong lòng chị đang có một tãng băng, nó đã thành hình từ một cục nước đá nhỏ xíu, nhỏ như cục nước đá trong ly cà phê; rồi nó kết tụ lại từng chút; từng chút một, và lớn dần theo thời gian.
     Những ngày đầu mới về làm vợ anh hai Khoa, chị vẫn muốn trao cho chồng mình ngọn lửa của chị, cái ngọn lửa mà nó mới vừa cháy lên khi chị gặp thầy giáo Nam – như thể thầy là ngọn gió - thế nhưng chính anh hai Khoa đã vô tình gạt nó ra cho tàn lụi thay vì anh phải khều, phải thổi để nó được cháy bùng lên. Cho mải đến bây giờ, sau bao nhiêu năm chung sống, có với nhau từng ấy đứa con thế nhưng anh chưa một lần gọi chị là “em ơi” và xưng “anh” với chị; mà chị thì thèm lắm một tiếng kêu ngọt ngào khi anh gọi chị, và một ánh mắt nhìn đằm thắm của anh trao cho chị. Anh hai Khoa không biết rằng tiếng gọi “em” ngọt ngào và ánh mắt nhìn đằm thắm chính là những ngọn gió thổi bùng ngọn lửa trong lòng chị để nó được cháy lên “phừng phừng”…Nỗi lòng của chị đó, nó vừa như một ngọn lửa đang âm ỉ cháy mà cũng vừa lạnh như một tãng băng trôi lờ lững.
     Chị nhớ thầy giáo Nam, gương lược của thầy tặng chị vẫn giữ kỷ trong vali, chiều nay chị lại đem ra soi mặt, gương với lược còn mới mà nét mặt chị đã già đi quá nhiều, nhưng vẩn có những giọt nước đang tràn ra ở hai khóe mắt; trong và ấm, mặn. Nếu thầy giáo Nam biết…?...

     

Hồ Thủy                          
Saigon, 01-2012