Lễ hội của tôi


  Ghi chép của Đào Hữu Thức


      Tháng 11 vừa qua, chúng tôi về Pleiku.
      Sáng 10/11, tôi đi vắng, đến trưa về đến nhà. Vợ tôi lên tiếng: -Tối nay mình đi Pleiku anh nhé! –Sao lại tối nay? Mình đã có chương trình đi họp bạn ở Sài Gòn vào 20/11, chờ Liên và Bình về cùng đi Pleiku vào đầu tháng 01/2010 rồi mà ? –Nhưng em hứa với Pleiku là sáng mai mình có mặt! Trời ạ! “Em hứa với Pleiku”, tôi biết Pleiku của Hảo là ai rồi! Tôi vốn có bệnh “nhớ Pleiku mãn tính”, thế là đi! 7 giờ tối lên xe, hai đứa tựa vào nhau mặc cho xe tưng, đường xóc, suốt đêm chẳng ngủ được tí tẹo nào vì nôn nao sắp về Pleiku. Xuôi quốc lộ 20, đến Liên Khương rẽ quốc lộ 27, qua sông Krông Nô, đến Banmêthuột 2 giờ khuya, 5 giờ kém 4 phút sáng xuống xe ngay trước nhà Nhung. Trời mới sáng lờ mờ, tôi tính bấm điện thoại, Nhung đã xuất hiện, mở cổng. Từ hôm trước, anh Bình dặn, về Pleiku cứ bảo xe đưa thẳng đến “ Rượu ghè Tây nguyên” vì “ban tổ chức” đã bố trí chỗ ở cho “khách Đà Lạt” rồi. Thế nhưng, hai đứa tôi bảo nhau cứ đến chỗ Nhung và Đức đã…Nhung bảo: - vào đánh răng, súc miệng…-Có ngủ đâu mà đánh răng! Chưa kịp café thì anh Bình đến. Rồi Hòa, Hạ, Tường Vân… Quán phở khô Bé Tư ngay cạnh nhà Nhung trở thành quán riêng mình. Ông chủ thấy những “đứa trẻ 60” tíu tít cũng vui lây. Tôi chợt no ngang trước khi ăn, vì vui!
      Anh Bình học trước tôi 2 lớp. Trong danh bạ điện thoại tôi ghi là “Bình gout” ví anh bị “bệnh nhà giàu” hành hạ suốt một thời gian dài, bây giờ đã khỏi, nhưng tay chân vẫn còn từng cục u chưa tan. Ông anh chúng tôi lại phải lòng Nga, một cô em cùng trường, “ráp” vào mấy mươi năm nay, con cái trưởng thành, bây giờ làm rượu ghè “lai rai”. Cái món rượu ghè của anh Bình trở thành một thương hiệu nổi tiếng ở Pleiku, khách đến mua 5, 7 ghè cũng được, khách ghé vào mua cả xe tải cũng có, anh “Pleiku già” chẳng thiết làm giàu, chỉ sản xuất in ít, “lai rai” là vậy. Mùa lễ hội, nhu cầu tiêu thụ nhiều, có bạn đến, nghỉ chơi cho khỏe! Nhà anh Bình và Nga, có nhiều gạo, sẵn thức ăn, café, bia rượu…, nhưng cái có lớn nhất của Bình và Nga là tấm lòng với bạn bè ngày xưa. Bạn bè trong nước, ngoài nước về Pleiku, chỉ cần “có chứng nhận là học trò Pleiku”, thế nào cũng được ưu ái. Anh bố trí cho hai đứa tôi một phòng riêng, có quạt, có TV, có nước khoáng, có trái cây và cả bông hồng, oai chưa? Nghe đâu, việc lo chỗ ăn, ở cho chúng tôi là do ý kiến anh Bình, đã được “hội đồng” phê duyệt. Hội đồng gồm Hạ-Lê Lợi, Nhung và Hòa-Phan Đình Phùng, vợ chống anh Định, chi Vinh ở mãi ngã ba Trà Bá…Nói đến đây, tôi cũng xin kể một chút về cặp “hoàng gia” tức là già mà hoang, ham vui, tôi mới vừa gặp gỡ, đó là Chị Vinh và anh Định. Chị Vinh là lứa học trò TH Pleiku đầu tiên ( chị ruột của Hiển, học lớp Nhung, Hảo, Yến, Hương…), anh Định, con nhà quý tộc Châu Đốc, sĩ quan thiết giáp thuộc QĐII, có tên trong danh sách HO những đợt đầu, nhưng tình nguyện gắn bó với chị Vinh, với Pleiku đến tận bây giờ. Anh Định to con, tóc bạc trắng, nói năng đặc chất Nam bộ, chuyên đi Vespa sprint đời một ngàn chín trăm “hồi đó”..! Anh Định là rể TH Pleiku, trở thành hội viên cũng là niên trưởng. Tiếc là chúng tôi không được gặp các nhân vật khác trong nhóm “ những người Pleiku chơi được” này, bỡi họ đang “hành hiệp” đâu tận Kon Tum, An Khê, Qui Nhơn…
      Trong ngày đầu, chúng tôi lại có Tố Hữu Thắng, Hạnh (Thái Lợi), Lan Hương ( ngâm thơ, người TH Pleiku gốc bồ Đề), Kim Trang ( cô giáo Phạm hồng Thái, gốc PHT) cùng chồng là Quang ( Giảng viên trường CT Gia Lai), rồi sau đó có Yên Kha ( nhạc sĩ ), Yên (dân Pleiku MP station cũ), Chi (học kém tôi 2 lớp, chơi guitar cổ điển). Tội nghiệp Nguyễn Hậu bị bệnh không dám đến vì sợ lây bạn bè ( nhạc sĩ nhà ta bị cúm, nhưng cứ lo H1N1!)
      Một bầy, đi đâu cũng rồng rắn với nhau, từ Café sáng đến rượu khuya có người bạc tóc, có người bạc râu, vô tư cười nói như con trẻ, thấy mà thương!
      Tiếng là đi dự Festival Quốc tế Cồng chiêng Gia Lai, nhưng thực sự chúng tôi chỉ Festival với bạn bè. Nhiều niềm vui, nhiều chuyện đáng nhớ lắm, nói sao hết bây giờ, xin kể vài cái vui điển hình :
      -Đêm đầu tiên ngủ tại nhà anh Bình, sáng ra lại trách chủ nhân cái tội nhà rộng: Tôi cứ tưởng đêm rồi được hôn người yêu ( 42 năm về trước) thơm mùi hoa hồng vì phòng có lọ hồng nhung, nhưng người yêu tôi lại sang ngủ phòng khác!
      -Rút kinh nghiệm sáng đầu tiên uống café quán của Hương Pleime (trước cổng KDL Diên Hồng), bạn bè tìm nhau vất vả, hôm sau ngồi nhà , Nga pha café tại chỗ, uống luôn. Không đi ăn sáng, nhưng chúng tôi có bánh mì Trần Khánh Dư, Bánh cuốn Yên Đỗ, bún chả cá và sứa( cổng trường Bồ Đề)…do “các quý bà” mang đến.
      -Đêm khai mạc lễ hội cống chiêng. Anh Định chở chị Vinh, đi từ cầu Hội Phú đến đầu đường Trịnh Minh Thế ( nơi làm sân khấu chính ) mất gần 2 tiếng.
      -Hảo, Hạ, Hòa, Nhung, Nga, Tường Vân, chị Vinh, anh Định…chen vào khu lễ hội, mỏi chân phải lấy dép lót ngồi (theo sáng kiến của Tường Vân) mà không xem được gì, còn Tôi và anh Bình đã tê tê, về nhà xem TV thấy đủ cả.
      -Tôi đang nằm trong phòng riêng xem khai mạc lễ hội trên TV, anh Bình gọi ra uống café, để cùng khen cô phiên dịch chương trình, một người nói tiếng Anh hay, dịch chuẩn, đặc biết rất đẹp và có duyên!
-Có một bữa tiệc tại nhà hàng Tân Đại Dương, do Tấn-Nông Lâm Súc (tôi thường gọi là 10 Tạ) khoản đãi, có tuyên bố khai mạc : “ Hôm nay được gặp các anh, các chị cựu học sinh Pleiku…Xin mời!”, Chúng tôi được phục vụ, ngoài heo rừng, chim đất, cá sông Sê San, còn có món “rau rừng” và “mắm cua đồng”. Riêng món rau rừng, cả bọn ăn mà không biết tên rau gì, Tấn phải điện gặp một tay Giám đốc Lâm trường để hỏi. Mười phút sau mới biết nó là rau “lủi”!
      -Một buổi chiều sau khi “lãng đãng” ở Khu Du Lịch Hồ Diên Hồng, tôi và Hảo theo Nhung và Nga, “chen vào” một quán ăn chuyên bán bánh nậm, bánh bột lọc, bánh bèo…Kết quả, bốn đứa chúng tôi được các thực khách khác thán phục vì đã thải ra khoảng 20 kg lá chuối (gói bánh).
      -Đêm cuối, tôi gặp nhóm bạn văn nghệ từ Sài Gòn tại quán 103 Võ Thị Sáu. Gần 10 giờ đêm, Lan Hương xong công việc (phóng viên kiêm Biên tập chương trình đài Truyền hình Gia Lai) ghé lại, mời về nhà. Trong đêm tĩnh lặng, chúng tôi được nghe giọng ngâm của Lan Hương những bài thơ của Tế Hanh, Lê Nhược Thủy và một số bài trong “Pleiku nhỏ” của Đào Hữu Thức. Khách Sài Gòn, nhà thơ Nguyễn Thái Dương không chịu nổi, ngâm 2 bài thơ tình để “ góp vào đêm thơ Pleiku bỏ túi”. Tôi phải ra dấu Thái, chồng Hương không mở chai rượu thứ ba, vì mọi người còn phải “ về nghỉ để lấy sức mai đi chơi !”.
      -Trưa ngày thứ hai, cả bọn rồng rắn đi “chơi lễ hội”. Chắc thấy thương bạn bè đầu trần phơi nắng, Hạ-điệu lấy trong quầy hàng gia đình ra hơn 10 chiếc mũ lá “thân tặng”. Những chiếc nón bằng lá buông có tua sẵn, bạn bè trả lại trước khi về lại càng te tua hơn. Nghe nói, chiều ấy khi không còn hàng để bán, Hạ nhà ta đã lệnh cho đàn em, cắt bỏ tua nón cho gọn gàng, bán luôn! Chuyện này tôi chỉ nói nhỏ cho phe ta biết thôi, đừng cho người ngoài biết nhé!
      -Lượt về, chúng tôi ghé Banmêthuột 2 ngày, đến gặp Loan (Viễn Du) cùng Viêm tận vườn café. Vợ chồng Viêm, Loan ra tìm chúng tôi ở phố, “Anh chị hãy vào chỗ chúng em một tí cho biết nhà!”. Vào “một tí cho biết nhà”, nhưng thịt bò đã tẩm gia vị, bia đã ướp trong tủ lạnh, chỉ cần nhóm bếp than lên…Chúng tôi ngồi với nhau trong căn nhà gỗ, giữa rừng café của bạn, “một chút” đến tối! Có lẽ tôi đã say khi cầm đàn hát mấy ca khúc của mình như kể chuyện cho bạn nghe, tôi tê tê khi bám đít xe của Viêm (vì không nhớ đường) về phố, mà người cứ lâng lâng như bay trên mây!
      Tôi mang Pleiku đến Nha Trang. Một tuần lể sau, tôi lại mang “những ngày Pleiku” ấy về SàiGòn. Nghe tôi kể chuyện “Lễ hội cồng chiêng Pleiku”, những người “Pleiku nhỏ” ai cũng thèm. “Lễ hội cồng chiêng Pleiku 2009” là lễ hội riêng bạn bè chúng tôi ở đó. Trên vùng đất đầy kỷ niệm ngày xưa, Pleiku là một điểm đến thiêng liêng, mà đời tôi đã nhận được biết bao nhiêu hạnh phúc.
      Về Pleiku! tuổi thơ chỉ có một, ngày xưa chỉ có một, mà sao chúng tôi kể hoài không dứt!

Pleiku, cuối tháng 11/2009
Đào hữu Thức