Cô Lê Mỹ Dung
* những mùa hoa năm cũ
…tìm trang sách, kiếm người xưa
sầu mây biền biệt, hững hờ đường hoa.
trách chi tóc bạc bây giờ …
Lê Mỹ Dung
Trên Đỉnh Cao. Như cả một mùa Xuân cũ đã qua mất lại về sau 40 năm! Thực cũng là Mơ… Tất cả cũng là Một. Những trang báo ngày xưa. Từng dòng, từng dòng đang dần chạy ra. Chỉ là hình ảnh thôi. Đúng là màu mực xanh ấy dù có phai đôi chút. Nét vẽ kiểu cọ hay phóng khoáng. Hàng chữ đánh máy thẳng đứng lặng lẽ..Một lỗi nhầm dấu. Bút mực sửa, gạch đi một chữ sai vẫn còn đây. Và hồn xuân, ngôi trường, những người xưa ấy..đang hiện trên dòng tâm thức.
Xuân Tân Hợi (niên khóa 1970-71) , thầy và trò, tác giả, độc giả ..cũng là người làm báo, bán báo, và mua báo.. đều còn trẻ lắm. Sau phiên họp chung đại diện ban báo chí các lớp, tên báo được chọn từ những mẩu giấy đề nghị : Trên Đỉnh Cao. Chẳng còn cái tên nào hay và có ý nghĩa hơn.
“Tòa soạn” đặt ở một phòng nhỏ còn để trống, được ngăn ra từ căn nhà rộng với mái tôn vách gỗ đơn sơ mới cất dành cho sinh hoạt hiệu đoàn, đối diện Phòng giáo sư nhìn qua sân cờ. Mấy chiếc bàn ghế thừa từ lớp học được đem kê vào đây cho Ban Báo Chí làm việc có khi đến chiều tối. Nhưng không được vì thế mà bỏ lớp, BBC.ạ. Thi đệ nhất Lục cá nguyệt xong mới nghỉ Tết.
Sân trường giờ ra chơi tưng bừng, xôn xao.. vui như ngày hội. Bích chương, quảng cáo dán khắp nơi: men cột, vách cầu thang, tường hành lang, cửa lớp.. giục giã gọi mời: Đón đọc Trên Đỉnh Cao, giai phẩm Xuân Tân Hợi Trung học Pleiku_Bạn đã viết bài cho đặc san Xuân trường ta chưa? Và thế là Mùa Xuân bắt đầu từ tháng11, khi hoa Quỳ đang độ nở chín vàng đồi núi, phủ kín những hàng rào thép gai quanh trường, hay từng cụm từng cụm phía sân sau, trong cái rét khô cao nguyên làm đỏ hồng lên những đôi má học trò …Bài vở gửi tới tấp đến Tòa soạn vẫn mở cửa thường trực. Tôi nhớ đến hai câu thơ của Holderlin được đọc lâu rồi:
Đã hẳn người sống đầy sự nghiệp,
Nhưng người ở đời như nhà thi sĩ…
Và có những thi sĩ của Trung học Pleiku thật đáng yêu lắm: Một em học trò nhỏ lớp 6 hay lớp 7, chắc vì lần đầu tiên gửi bài đăng báo nên còn rụt rè e ngại. Chân em bước rất nhẹ đến trước Tòa soạn, ném thật nhanh tờ giấy vở có chép bài thơ của mình vào qua cửa sổ, rồi vụt chạy như sợ bị mọi người bắt gặp. Tôi mỉm cười nhìn theo: nếu bài không được đăng thì ..quê mặt lắm !.. Nghĩ vậy phải không em ?.
Nhưng mãi đến bây giờ trong tôi vẫn chưa thể nào định rõ: Thơ là gì?,Thi sĩ là ai? và, Viết cho ai ? Viết để làm gì?... Chỉ cảm nhận rằng: mỗi tác phẩm trên từng trang báo là một đóa hoa đang tỏa hương dịu dàng từ những trái tim thanh khiết của Trung học Pleiku ngày ấy.
Xem lại, vào những trang trong: bắt đầu là Khai từ mà emTrần Hoàng viết thay cho BBC, rồi Lời Ngỏ của Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đức Trung. Văn hoặc thơ..của các giáo sư Lê Quý Ánh, Trần Đình Ngạc, Lê văn Lập , Nguyễn Quảng Cư. Các tác giả khác hiện diện là học sinh đủ các khối lớp từ 6 đến 12.. Tranh phụ bản và phác họa, trình bày của các họa sĩ Trung học Pleiku như Cỏ xanh, Trung, Thảo, Long, Hoàng .Vài tác giả bí mật dấu tên. Đọc lại từng bài một lần nữa và thấy rõ đó là những trang viết có giá trị về cả nội dung,nghệ thuật trong từng đề tài hay thể loại đã được tác giả chọn lựa. Mỗi tác phẩm là một không gian, một câu chuyện có thật hay tưởng tượng. Là niềm vui, nụ cười, nỗi đau. Một cảm xúc sâu lắng hoặc nhẹ nhàng thoáng qua như khói mây..Toàn bộ tập san cho người ta nhận biết hình ảnh ngôi trường cả bề mặt, chiều sâu, trong bối cảnh quê hương còn đau thương bom đạn, với tâm tư người trẻ tuổi Việt Nam ngày đó. Từ triền dốc và trên đỉnh cao ấy, có thầy, trò, có bạn, tôi, em cùng bút mực, sách vở, kiến thức với cả một tương lai đang đến chưa biết chắc, dù ta vẫn bước trong từng nhịp thở mỗi phút giây (Vỡ Lỡ _Lê văn Lập). Những khoảng trời xanh của Xuân Lan (11B/2) mong manh, xa vắng , bàng bạc đám mây ngậm ngùi hư ảo. Sớ Táo Quân của Quốc Thảo (12 A ) với nét bút dí dỏm là bức tranh sinh động về mái trường yêu dấu đầy ắp mùa Xuân một quãng đời niên thiếu, để bây giờ ta ao ước biết bao được sống lại thời thơ trẻ ấy một lần.Cũng không Hạnh phúc nào êm ái hơn nữa như Buổi Sáng của Hoa Hồng ( 6/2) ,và Trăng tắm hồ Sen_ Lê hóa Thân (6/4) là vẻ tuyệt mỹ của Chân Tâm.
Phần kỹ thuật, Thầy Trung Hiệu trưởng đã xuất quỹ ứng trước cho mượn chi phí thực hiện. Rồi nhờ thầy Lê quý Ánh, Đặc san được Phòng báo chí Bộ Tư lệnh Quân Đoàn 2 giúp đỡ việc in photocopy: phương tiện mới và hiện đại nhất của những năm 70! Nhưng máy thời ấy chưa thể photo một lần với 2,3 màu, cho nên hình bìa Trên Đỉnh Cao lại là tác phẩm của một họa sĩ áo lính phác nhanh từ phòng in, thay cho bức vẽ quá công phu của họa sĩ học trò Pleiku. Thầy Trần đình Ngạc, cả thầy Cao thoại Châu_ Pleime cũng gõ giúp một, hai bài. Thầy Châu có một máy chữ nét nghiêng cho thơ thật tuyệt.
Viết bài, gõ chữ, đóng gáy, dán bìa cho hơn 1000 tập, rồi thầy cùng trò từng nhóm đem báo đi bán khắp các trường Pleime, Bồ Đề, Minh Đức, Phao Lồ, Bán công. Tất cả là một quá trình vất vả với nhiều kỉ niệm vui buồn..để có lúc “báo chí ” biến âm ra “báo hại”,“báo đời”. Tuy vậy thầy trò đã cùng nhau đều tận tụy làm việc. Chẳng ai nghĩ phải được đền bù công khó, dù không có thù lao hay nhuận bút ngoài mấy quyển báo được tặng. Cuối cùng , Trên Đỉnh cao được trường nhà, trường bạn ủng hộ nồng nhiệt, nên bán gần hết. Mỗi lần nhớ lại những ngày tháng ấy, tôi vẫn thấy xúc động rưng rưng: Tâm hồn Pleiku đẹp đẽ biết bao!
Cũng từ cái chất tâm hồn thanh quí ấy, phải không? học trò trường Trung Học Pleiku đã chăm và giỏi, vẫn mê thể thao, mà còn yêu văn nghệ, báo chí lắm. Sinh hoạt báo chí năm nào cũng rộn rã, sôi nổi._Trước mùa xuân Trên Đỉnh Cao (1971) có giai phẩm xuân Góp Gió (1970) của lớp 9/2, tự quay ronéo. Sau Trên Đỉnh Cao là Đặc san Trung học Pleiku Xuân Nhâm Tý (1972), trưởng ban báo chí Nguyễn Thanh Sơn (11B), với tranh bìa là họa phẩm Hoa Đào rồi Hoa Lan của thầy Trần đình Khuôn. Đặc san THPK Xuân Quý Sửu (1973)_ trưởng ban báo chí Trương Thanh Huyền (11B). Ngút Ngàn , tập san của riêng 10B_ trưởng lớp Võ Tấn Quân (một lớp chuyên Toán, nhưng cũng quy tụ những cây Văn xuất sắc ) cùng hiện diện xuân năm ấy. Tiếp theo, tập thơ của nhóm Khơi Nguồn với bạn bè Trương thanh Huyền ra mắt khá long trọng. Cuối năm học 1973-1974 có Hạ-Cao_Đặc san Hè Trung học Pleiku_ trưởng ban báo chí Nguyễn thanh Sơn ( 12A). Ban báo chí thực hiện phần trình bày, có sự cộng tác đánh máy và quay Ronéo của nhà in Cao Nguyên. Sau hết, tờ báo cuối cùng xuất bản vào đầu năm 1975: Đặc san Xuân Ất Mão Trung học Pleiku với kỹ thuật in hoàn bị chuyên nghiệp
Từ Trên Đỉnh Cao, bao mùa xuân tiếp nối, từng mùa học đi qua..Học trò năm cuối lần lượt ra trường. Ban biên tập báo chí có thay đổi theo niên khóa. Những tờ báo Tết, báo Hè ngày càng phong phú, giá trị văn học nghệ thuật càng khởi sắc hơn. Các tác giả THPK theo dòng năm tháng ấy cũng đã tỏ bày mọi nỗi niếm hiện tại lẫn mơ hồ mai sau. Những vất vả của việc học cùng nỗi cô đơn của tuổi trẻ, một tương lai xa vời , cây bút học trò PK đã nhận biết và suy tư sâu sắc lắm (Viết trong giờ ra chơi.Lý.pk-11B.Hạ Cao1974).Nội dung hiện thực có chút lãng mạn ước mơ (Chân mây.Lý văn Chánh .10A/1.Xuân NhâmTý.1972). Văn học là Nhân học. Văn đã là Người.
…. .Sáng đi vỗ bụng đầy ắp cơm chiên, nghe thèm thèm ly trà nóng;
Trưa về vuốt ruột trống không nước lã, thấy nhơ nhớ đĩa thịt heo.
Ngày ngày ngồi ghế nhà trường, duỗi cẳng xuống sàn để nhớ người năm cũ;
Đêm đêm nằm giường gác trọ , vắt tay lên trán mà nghĩ chuyện mai sau……
……Đời có vui thì có khổ, ta nhận lấy khổ để người vui…
( trích bài: Phú Học trò nghèo_ Lưu tấn Phước-12A.
Bình xưa rượu cũ_ Hạ Cao)
Có chất “Hàn Nho phong vị “của Nguyễn công Trứ ở đây. Nhưng cái nghèo được nói tới không hẳn một nỗi xót xa, mà làm nổi bật chiều sâu thẳm tâm hồn giàu có của người thư sinh Pleiku . Nét đẹp, vẻ thơ đôi khi hòa lẫn với những hoang mang bế tắc nơi tâm tư người viết “...mơ ước mình sẽ làm được một cái gì, một cái gì cần phải có mà chưa bao giờ tôi biết rõ. Tôi mười tám năm tròn chưa thoát vòng dấu hỏi.” (Có một khoảng đời _Nguyễn Công Tùng Sinh-12A. Xuân Nhâm Tý 1972)
Nhiều vấn đế về học đường, xã hội được quan tâm, và các Thày Cô cũng tỏ bày ý kiến qua bài viết, hay trong phần trả lời những câu hỏi phỏng vấn của ban báo chí ( Đặc san Xuân Nhâm Tý 1972). Bài phóng sự vui của Jin-Jit (12B) về cuộc vận động bầu cử ban Đại diện Học sinh vẽ lại một diện mạo mới, ý thức Dân chủ với sinh hoạt học đường.
Các tác giả đã ghi lại nhiều cảm nghĩ về chiến tranh( Suối đá hoàng hôn.Mê Linh.12B.Xuân Nhâm Tý.1972), cái sống, cái chết lẫn lộn từng ngày sau mùa hè đỏ lửa 1972 (Pleiku sau ngày di tản..đặc san Xuân 1973)..Đến tập san Xuân Ất mão (1975 ) bài thơ của thầy Hiệu trưởng Lê văn Lập là những cung bậc xót xa rung một khúc trầm xuân ca giữa ngửa ngang dòng đời mải mê bối rối.
Trong tất cả các tập báo Xuân, Hè ấy..một nội dung không bao giờ nói hết được là Tình yêu vu vơ mơ mộng tuổi học trò (Pleime trường con gái_Hạ cao), (ta hẹn nợ nhỏ ơi -Võ tấn Quân 11B_Hạ cao) và niềm luyến thương mái trường có bạn có thầy cùng sách vở.
Nỗi buồn phải xa trường vẫn thường đến sớm.Chia ly như hiện diện ngay từ những ngày còn gặp.
...Xin cho một lần ngắm Phượng rơi,
Để mai sau trong suốt cả cuộc đời
Sẽ lưu luyến và hình dung mãi mãi
Cánh Phượng tàn trong gió buông lơi.
(Trần Thu_9/2_Xuân Góp Gió_1970)
...Biết đâu mai đầy những ưu phiền,
Em yêu dấu bỏ trường đi mãi ...
(Một hôm nào ghé về thăm_ Hạ Cao. Đặc san hè 1974 )
Văn như nói trước lời định mệnh : Rồi ngày mai tất cả cùng bỏ cuộc..Đất trời mênh mông,chỉ có gặp gỡ đền đáp cho kẻ đã kiếm tìm, nhưng làm sao ta đi hết vòng địa cầu để còn gặp lại và nhận được ra nhau?.. ( h_ .Viết cho ngôi trường chúng ta_ Ly ca. Đặc san xuân Nhâm Tý 1972 ) .
Câu thơ nào người Pleiku viết năm xưa sao buồn quá! Có phải không là bây giờ :
…..Lớn khôn để có ngày ra đi,
Để có ngày biết cười biết khóc…
….Lớn khôn để có ngày trở lại,
Thấy mình sao bỗng dưng lạ hoắc...
(Lam Điền.nhớ em_đặc san xuân Nhâm Tý 1972)
…..Một mai hiu hắt dặm đường
Tương tư sách cũ sân trường hôm nao.
(Hạ cao _1974)
Tất cả những tờ báo ngày xưa ấy hình như đều đã lạc, mất còn đâu đó, hay có theo ai đi về trên những dặm đường xa lắc nắng mưa. Người THPleiku đã đi hay dù còn ở, cũng xa xăm, đổi khác.Nơi trường xưa dấu cũ tàn phai , mà người xưa trở lại có khi cũng thành lạ hoắc. Giòng đời vẫn không ngừng mênh mang trôi chảy: Có cộng nghiệp chung cho nhiều người ; biệt nghiệp hay định mệnh, số phận riêng mỗi người. Không là tốt, không là xấu. Cõi trần như vậy .Nhiều học sinhTHPK hôm nay đã thành đạt vẻ vang.Nhiều người bình thường.Có người đã vĩnh viễn chia xa.
Anh Lê Quý Ánh_ giáo sư Toán đã viết bài, góp ý kiến cho Trên Đỉnh Cao, luôn khuyến khích ban báo chí và xem tôi như một đứa em nhỏ dại. Anh đã từ trần hơn 2 năm nay. Tôi chỉ đến nhà thăm anh một lần khi biết tin anh bệnh. Rồi mấy tháng sau, tôi không đưa tiễn, nhưng đã quỳ khấn trước linh cữu anh như đối với một người anh cả.
Hai học sinh rất thương quí của tôi :Lý-pk. và Long_cũng là hai họa sĩ tài hoa của báo chí THPK. Bạn bè kể lại: Long đã mất, ngay sau 1975., Lý ra đi mãi mãi sau hơn một năm nữa. Lý-pk bé nhỏ, trắng hồng như con gái. Họa phẩm của Lý rất đẹp, mang vẻ riêng biệt kỳ lạ phong phú, luôn chất chứa những dấu nét suy tư, dù có khi chỉ là một hình ảnh giản dị. Phần trình bày và minh họa cho Hạ Cao, Ngút Ngàn.. gần như toàn bộ là của Lý. Trong lớp, Lý vẫn ít nói, mà học rất chăm. Tôi buộc tất cả các học sinh của tôi phải viết “Tôi Đọc Sách” cho từng cuốn sách tự chọn đã đọc. Lý viết hết 60 trang suy tư về một quyển truyện trong một lần nộp bài tự đọc sách.Tôi ngạc nhiên gần như kinh hoàng và thầm cảm phục học trò mình, không biết chính xác phải cho điểm làm sao !..Long học trước Lý một lớp. Long cao lêu đêu, hiền hậu, nhìn màu vàng hoa Quỳ bằng đôi mắt triết gia: hoa đắng (đặc san Xuân Quý Sửu). Tranh của Long với màu và mực nước mềm mại, lãng mạn có chút kiểu cọ cổ điển.Tôi chỉ một lần đề nghị: “Em thử làm bích báo trên lụa xem !” Tờ báo thật đẹp của đoàn Du ca Pleiku viết trên lụa trắng do Long thực hiện đã tặng Tổng thống Thiệu.(Saigon,1973).
Tôi phải kể về lớp 9/2 và em Nguyễn Tuấn,cậu học trò ngồi bàn trên ,chẳng viết lách tài hoa, nhưng thật hết lòng và có công đầu ngay tờ báo đầu tiên ( Góp Gió.xuân 1970-lớp 9/2), tờ báo nhiều kỉ niệm với tháng ngày mới đến Pleiku tôi còn nhớ mãi. Tuấn là con trai cưng ông Trưởng ty Thanh Niên Pleiku. Ông Thanh-Niên bạn thân với ông Thông-Tin. Và thế là lớp 9/2 được Ty Thông Tin cho mượn máy ronéo mà quay lấy báo. Cả lớp mừng rỡ. Chiều thứ năm và cả ngày chủ nhật, Tuấn cùng các bạn chở nhau lên Ty Thông tin ở quãng đường xa rất vắng trên lối đến Biển Hồ. Tôi cũng tới đó. Thợ là học trò và cô giáo cũng chưa biết nghề quay ronéo bao giờ. Máy cũ nên đòi nghỉ hoài. Lần nào cũng vậy, được ít trang là thợ chính Nguyễn văn Hải lại kêu lên :"...máy nó hư rồi Cô ơi!" ... rồi cũng loay hoay sửa lấy. Áo, mực lấm lem. Quen dần và thành nghề! Báo cũng xong nhưng có phần luộm thuộm. Năm sau, nghe “Trên Đỉnh Cao” được in photocopy màu , Tuấn viết thư “..sau này Cô nhớ có làm báo thì đừng in
mà cứ quay ronéo mới đúng là tờ báo của học trò, cô nhé!”. Mấy năm “sau này”, báo vẫn phải quay ronéo vì giá in quá cao,nhưng học trò không được làm thợ ronéo nữa. Ở Saigon, tôi gặp lại Tuấn năm1982. Mọi người cùng đang khổ. Em học trò con cưng ông Trưởng ty Thanh niên ngày xưa cũng phải một mình lang thang vất vả, về miền Nam câu tôm kiếm sống. Nhiều năm sau nữa, bạn bè cũng chẳng ai biết Tuấn có đi vượt biên hay phiêu bạt nơi nào?
Còn một cô giáo bạn tôi ,cũng biệt tích: cô Nguyễn Phương Nhuần, dạy Anh văn, cô giáo đầu tiên và duy nhất đã viết bài đăng (Một chuyến bay đêm. xuân Góp Gió) kể chuyện Cô và các bạn cùng khóa Sư Phạm được đi tu nghiệp 10 ngày ở Úc, trước khi ra trường. Có phải đó là hạnh phúc lớn nhất đời Cô ? Văn của Cô hay và nhiều cảm xúc. Nhuần cùng tôi chia sẻ nỗi lo cho tờ Góp Gió. Nhuần với bề ngoài tầm thường, ăn mặc quá giản dị , lại khó tính, dễ giận, thẳng tay phạt học trò mỗi lần 3 cặp 00. Nhuần bị gọi vào loại “mát”. Nhưng cô giáo “mát” ấy mỗi đêm về vẫn thức rất khuya cùng ngọn nến leo lét, cặm cụi chấm bài hay vẽ hình họa cách phát âm từng mẫu tự Anh. Không ai biết cô giáo “mát” ấy vẫn hàng tháng lại bớt một phần nhỏ tiền lương của mình cho viện nuôi trẻ mồ côi phía sau khu nữ tu Thánh Phaolo. Ở đấy, có những em bé lai Mỹ đen đang tập nói, mừng rỡ bi bô biết cô là người quen, được cô ôm lấy vuốt ve và cho bánh. Nhuần thường tập chơi Guitar mỗi chiều chủ nhật, và tôi nghe mãi đến thuộc những nốt đàn còn lúng túng của Nhuần với Serenade ngậm ngùi:“ Đã quên hết sầu chưa. .người ơi, nhớ mãi cung đàn...” Nhuần là giáo sư hướng dẫn lớp 9/3, học sinh người Thượng. Nói gì tiếng Anh, các em phát âm tiếng Việt còn chưa rõ, nên ngoan hiền nhút nhát, chẳng làm cho cô Nhuần phải giận bao giờ. Cô thương lớp 9/3 lắm. Mùa xuân 1970 ấy, trường tổ chức cắm trại ở Hàm Rồng(?) trước Tết. Nhuần mua đôi liễn giấy đỏ bảo tôi viết hộ mấy chữ Nho trang hoàng cho lều trại lớp 9/3. Tôi chiều bạn, cũng hí hoáy vụng về, tô đen đậm những nét chân phương:
Hòa bình thiên hạ phúc
Hiếu hữu nhân gian xuân.
Học sinh không ai biết đọc, lớp 9/3 lại càng không hiểu gì, nhưng đôi câu đối đỏ phất phơ trước lều trại lớp 9/3 bên gian hàng báo Tết 9/2 cũng làm mầu sắc Xuân ấm áp núi rừng. Hôm ấy lớp 9/2 cũng bán hết Góp Gió. Năm sau, cô Nhuần đổi về dạy ở Đức Trọng, cách Đalat 20 km. Một năm nữa sau 75..tôi ở Đalat tìm đến nhà bạn trong một ngách hẻm đường Bá đa Lộc: chỉ còn một nền gạch đổ nát hoang vu…
Mấy lần đi họp mặt thày trò Pleiku ở Saigon, anh Trung Hiệu trưởng vẫn luôn hỏi tôi: “Cô Nhuần bây giờ ở đâu? cô ráng tìm khi nào lên Đà lạt, rủ cô ấy về đây gặp lại bạn bè. Tội nghiệp cô ấy lắm, thương lắm!.” Giọng anh Trung dịu dàng, rơm rớm..nỗi xót thương. Ông Hiệu trưởng này lúc nào cũng ôn hòa nhỏ nhẹ, và như là ông không bao giờ thấy mình lớn lao quan trọng cả. Tôi đã về Đalạt, ráng tìm…Chỉ thấy Đalạt giờ đông vui quá. Chỉ nhớ bạn tôi xưa lúc vui có nụ cười thật tươi hiền hậu trẻ thơ mà đôi mắt sao long lanh như ứa lệ, khi đọc văn mình kể lại một chuyến bay đêm giữa trời sao nước Úc, trên trang báo mới tập của học trò._Tôi chưa trả lời anh Trung được.
Bây giờ lại sắp cuối năm, hoa Quỳ của núi đã tàn rụng hết.Tết Việt-nam rộn ràng từ tháng Chạp. Tôi vẫn chưa về Pleiku. Mùa xuân sớm , cao nguyên vẫn rất lạnh. Pleiku văn hóa cồng chiêng lễ hội tưng bừng. Pleiku phố núi nhà cao ai đem bụi đỏ đi rồi ? Không là tốt không là xấu. Ban Báo Chí ngày xưa: Trần Hoàng giờ vẫn trả nợ văn chương. Xuân Lan, Tôn nữ Thanh Thủy, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn văn Trung,Võ tấn Quân lập nghiệp ở Saigon.Trương thanh Huyền lập trại gần Nhatrang. Còn nhiều lắm những tác giả , độc giả khác nữa..làm sao tôi biết và nhớ hết !. Những em học tròTHPK đã gắn bó với đặc san Xuân Hè có lẽ vẫn chưa quên mình đã viết bài, làm thơ, bán báo, tập làm nhà văn nhà báo từ thời đi học. Đã chắt chiu dành tiền mua báo của trường mình mà mộng mơ tự hào, vui sướng.. Phải không em? Một thời thơ , để nhớ để yêu , đẹp mãi trong tâm tưởng.
Saigon, 01-2011
Cô Lê Mỹ Dung
Revised 05/30/2011
*Cảm ơn em N.T.Hoàng-Đào (cựu nữ sinh TH Pleiku-Pleime)
đã có nhiều công sức và thiện ý đem mùa xuân Trên Đỉnh Cao
về với Trung học Pleiku * . Cô Dung./